11.6.14

Tuổi trẻ của thiên đường chủ nghỉa cộng sẵn Việt Nam

 100 năm trồng người cũa Hồ chí Minh

Thiếu nhi, thanh niên là tương lai, rường cột nước nhà.Bao nhiêu thế hệ bị đày đọa, bần cùng hóa, lao động khổ sai như hình ảnh bi thương lam lu của tuổi trẻ Việt Nam trong chế độ Cộng Sản. Như vậy, tương lai dân tộc Việt Nam sẽ đi về đâu.
Những cán bộ Cộng Sản và hậu duệ của họ đang nghĩ gì về thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?



Đây là tội ác VC đã/đang giết hại và hủy diệt giống nòi một cách cực kỳ thâm độc




ĐÂY THIÊN ĐƯỜNG CỦA THIẾU NHI VIỆT NAM ĐƯỢC SỰ CHIẾU CỐ ĐẶC BIỆT CỦA ĐOẢNG-NHÀ LƯỚC!

Nhân ngày quốc tế Thiếu Nhi 1/6 định viết một bài vạch ra Sự Thật bị dấu diếm trắng trợn về đời sống cực khổ chưa từng có trên thế giới hiện đại này của đa số thiếu nhi nông thôn và miền núi Việt Nam… …
Nhưng xét lại, thấy mọi lời nói cũng không thể có sức tố cáo mạnh mẽ và xác thực bằng một loạt hình ảnh sau đây...
Xin mọi người có lương tâm trên thế giới hãy góp sức bằng mọi cách để giải phóng các cháu tội nghiệp này khỏi kiếp người nhưng cực khổ còn hơn con vật!
Xin hãy cứu vớt hàng triệu sinh vật nhỏ bé đáng thương này!
Xin Chúa hãy trừng phạt những kẻ đã đẩy các cháu vào con đường đau khổ này mà vẫn trâng tráo tuyên bố “tình hình xã hội, sự quan tâm đến các cháu thiếu nhi, tương lai của đất nước đã được nâng cao không ngừng”!!!

đâu phải chỉ có trâu làm kiếp kéo cày...


cấy lúa

gùi củi

áo quần đâu mà che thân

Add caption
đoảng nhà lướt lo cho em như thế này sao???

lao động nặng

các bé lớn hơn cũng chẳng hơn gì

đoảng nhà lướt ở đâu rồi nhỉ

móc rác

hái củi

ra chợ với Mẹ

đu dây như làm xiếc để tới trường

đáng gọi là nhà không?

chỉ cơm trắng thôi cũng ăn

mạo hiểm để đi học, cảnh mà người thành thị không bao giờ dám

bới rác mưu sinh

tin nổi không??? trẻ em lên 5 xã nghĩa ưu việt!

an toàn giao thông đây sao?

Chiếc bát em bé cầm trên tay chứa món mèn mén, đây là một đặc sản của núi rừng Tây Bắc nhưng khi ăn vào nó thì cứ nghèn nghẹn chẳng khác gì bát "chè khoán" của bà cụ Tứ trong truyện "Vợ Nhặt" của nhà văn Kim Lân

cả nước sạch cũng không có mà uống nữa

trong cái lạnh ghê hồn của núi rừng Tây Bắc

đúng là chỉ cơm rau

Những đứa trẻ ngủ thiếu chân trên tấm ván được chắp vá từ những thanh gỗ nhỏ


chỉ cơm rau và nước muối

trong cái lạnh ghê hồn của núi rừng Tây Bắc



lao động nặng như người lớn

móc rác 

vác đá

chị cũng lạnh làm sao sưởi được em?

con chó còn sung sướng hơn em vì nó có bộ lông trời cho

mới lên 3 đã biết đi bắt ếch

và cô độc, buồn thảm

ăn tại bàn học

và ngủ cũng trong lớp

1 căn phòng nhỏ xíu chứa tới 25 em 

đu dây qua sông

nước uống của em đây sao?

chưa tới 10 tuổi đã làm dân chài


và vác gạch như người lớn
cả đào đá núi

gánh lúa khi chưa tới 3 tuổi





-

__._,_.___

Posted 

10.6.14

Lời kêu gọi VIỆT NAM HÃY TRỖI DẬY

Lời kêu gọi VIỆT NAM TRỖI DẬY 
Tôi viết những lời này với tư cách của một người Việt Nam trẻ tuổi đứng trước nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc trên Biển Đông.
 
Đây không phải là nỗi đau, đây là nỗi nhục của một đất nước nhiều chục năm ngủ quên vì say men chiến thắng và hưởng thụ đời sống vật chất mà lơ là không chuẩn bị cho tương lai. Việc Trung Quốc lấn lướt, ngang nhiên bộc lộ rõ dã tâm ở lãnh hải Việt Nam là biểu hiện cho thái độ coi thường của chính phủ Trung Quốc với một đất nước như nước ta vốn đã từng nhiều lần đánh bại họ. Trong lịch sử, xuyên suốt Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, cuối Hậu Lê, cứ mỗi khi chính sự nước ta rối ren, lòng dân bạc nhược thì Trung Quốc lại kéo quân sang gây hấn và xâm lược. Điều tôi muốn khẳng định là: Nguyên nhân dẫn đến tình trạng biển Đông bị xâm lấn là kết quả của một chuỗi nguyên nhân: chính phủ không đủ tài và đức để xây dựng đất nước, người dân thờ ơ và thiếu trách nhiệm với xã hội, phe đối lập đặt quyền lợi của bè cánh hơn quyền lợi đất nước, tuổi trẻ lơ đãng với các vấn đề về tổ quốc.

Tiếng súng ngoài biển khơi của Trung Quốc không chỉ bắn vào tàu Việt Nam mà đã bắn vào chính đất nước ta. Trung Quốc cho vòi rồng phun và đâm thẳng vào mạn tàu Việt Nam thật sự là một cú huých lớn. Đau thương, nhưng cần thiết để tỉnh cơn mê ngủ suốt nhiều chục năm! Đây là lúc Việt Nam phải trỗi dậy, bởi nếu không trỗi dậy tức là chúng ta đã đầu hàng, dù trong lúc nói mê chúng ta vẫn luôn mồm hô hào tình yêu nước.

Trỗi dậy là khi chúng ta chấn hưng được tinh thần yêu nước thật sự ở sâu thẳm bên trong mỗi con người. Yêu nước không phải điều gi trừu tượng xa xôi, yêu nước không phải yêu chính phủ, yêu nước là tình yêu của con người dành cho những con người có cùng một nguồn gốc dân cư, cùng có chung với chúng ta những thăng trầm lịch sử, chung một nền văn hiến, yêu mảnh đất nơi ta đang sống, yêu ngôn ngữ chúng ta đang nói, yêu từng cành cây ngọn cỏ… Hay cụ thể hơn, chúng ta yêu con người Việt Nam trong mỗi chúng ta: con người cần cù, khéo léo, thân thiện, ham học hỏi, kiên cường trước mọi khó khăn. Chúng ta đã hoàn toàn quên mất con người sâu thẳm ấy mà chạy theo những lớp vỏ bọc ngoại lai, thời thượng. Bởi thế, vận khí suy đồi, xã hội hỗn loạn, đạo đức sụt giảm, chúng ta trở nên lười biếng: lười suy nghĩ, lười hành động, lười trung thực. Bạn không thể đóng góp một điều gì có ích cho Việt Nam nếu bạn không có một trái tim và khối óc của một người Việt Nam.

Trỗi dậy là khi chúng ta không sợ hãi trước bất cứ các khó khăn nào, ngay cả khi trong thân phận là nước nhỏ, bị chèn ép bởi các nước lớn. Hãy nhớ rằng nước chúng ta có thể nhỏ, nhưng chúng ta đừng để họ nghĩ chúng ta như một nước tiểu nhược. Các bạn có thể biểu hiện sự tự hào mình là người Việt bằng thái độ lịch lãm và nhân văn ở bất cứ đâu, dù cho họ có khinh miệt quốc tịch chúng ta đến thế nào. Một cử chỉ nho nhỏ của các bạn thôi cũng có thể sẽ khiến người dân nước khác thay đổi cách nghĩ về Việt Nam.

Trỗi dậy là khi chúng ta không để những toan tính tầm thường của tranh chấp quyền lợi làm cho mờ mắt. Làm một con người sống đầy đủ với các giá trị về cảm xúc, trí tuệ, cởi mở và khám phá… quan trọng hơn rất nhiều so với đời sống no đủ được vun vén bằng ti tiện và những âm mưu, lừa gạt.

Trỗi dậy là khi mỗi một cá nhân đều thấy rằng mỗi sáng thức dậy, chúng ta đã làm những điều có ích cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước và cho nhân loại. Là khi chúng ta không thấy mỗi ngày trôi qua trong vô vọng, nhàm chán, ảo tưởng. Là khi chúng ta có thể biến mọi ý tưởng đẹp đẽ thành hiện thực.

Nếu không phải lúc này cần trỗi dậy thì còn là lúc nào nữa?

Chính phủ Việt Nam thật sự cần trỗi dậy trong cách điều hành đất nước! Bỏ qua lợi ích cá nhân và tổ chức để chấn chỉnh bộ máy nhà nước. Đã đến lúc chính phủ có tầm nhìn lớn hơn, cách nghĩ đa chiều hơn trong điều hành đất nước. Đây là cơ hội để hòa hợp hòa giải, và muốn vậy các vị phải hiểu rằng không chủ nghĩa nào quan trọng bằng tồn vong của dân tộc. Không cá nhân hay tổ chức đơn lẻ nào có thể giải quyết được các bế tắc trong một xã hội đa chiều và đầy biến động. Tôi rất mong rằng chính phủ sẽ đặt quyền quyết định hướng đi của cả dân tộc vào tay đại đa số người dân, tạo được một môi trường mà trong đó mọi sự góp ý đều được tôn trọng, phân loại và chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh. Đã đến lúc cho tinh thần yêu nước, cho ý thức toàn dân, cho giải pháp khách quan. Có vậy, các vấn đề mới được giải quyết ở gốc rễ của nó.

Các giáo đoàn tôn giáo, tâm linh, tín ngưỡng có vai trò quan trọng trong định hướng tinh thần. Sự trỗi dậy khỏi ham muốn tầm thường, khỏi đám đông cuồng tín của các vị chính là sự truyền cảm hứng lớn lao cho con người hướng tới tình yêu thương và sự bao dung. Các tôn giáo, tín ngưỡng, có thể khác nhau về cách diễn đạt, về phương pháp tu tập, về giới luật nhưng luôn hướng tới một điều: một thế giới đại đồng và bác ái.

Các trí thức, học giả cần trỗi dậy, thoát khỏi các định kiến xưa cũ và thói quen thể hiện danh tiếng cá nhân. Đã đến lúc mỗi học giả, mỗi trí thức thôi cách suy nghĩ: Việt Nam phải đi theo cách của tôi thì mới khá lên được. Đã đến lúc các học giả, trí thức đóng góp cho đất nước bằng các kế sách mang tính giải pháp thiết thực từng vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt. Đã đến lúc các vị cần cởi mở tấm lòng để giúp đỡ những thế hệ đi sau bằng kinh nghiệm và sự cổ vũ, khuyến khích.

Tầng lớp văn nghệ sĩ cần trỗi dậy bằng chính những tác phẩm của mình. Những tác phẩm rẻ tiền, phục vụ thị hiếu đám đông trong nhiều năm qua đã làm suy giảm khả năng tư duy, trí tưởng tượng và tình cảm đẹp đẽ ở người dân Việt Nam. Đã đến lúc các văn nghệ sĩ phải nghiêm túc sáng tác các tác phẩm tầm cỡ về trí tuệ nhưng chân thành bằng cả trái tim mình. Một dân tộc sẽ được định hình bởi chính tác phẩm của dân tộc đó, sẽ được khẳng định bằng chính những tác phẩm của dân tộc đó.

Các khoa học gia, các kỹ sư, những người hoạt động trong lĩnh vực Khoa học Công nghệ chính là những người sẽ tạo ra thay đổi lớn lao ở Việt Nam. Không một giải pháp nào được đưa ra chính xác nếu không có các công trình nghiên cứu, phát minh và kiến tạo. Không chỉ có trỗi dậy, những nhà khoa học, những nhà sáng chế, những kỹ sư còn phải giữ vai trò tiên phong trong công cuộc cải cách. Bao năm qua các vị đã ngủ quên trong các viện nghiên cứu, trong trường đại học với các công trình bị bỏ quên. Giờ đây, đã đến lúc các vị tìm mọi cách để biến ý tưởng thành hiện thực. Hãy nhớ rằng việc phát minh ra máy in của Gutenberg thay đổi thế giới không kém gì đạo quân của Napoleon. Hãy nhớ rằng giống lúa lùn của giáo sư Lương Đình Của đã cứu đói cho Ấn Độ, cho Việt Nam và làm nên cuộc Cách mạng xanh như thế nào. Và Việt Nam thật sự cần những đột phá như vậy thêm nhiều lần nữa.

Các thương gia và doanh nghiệp cần trỗi dậy hơn ai hết bởi các vị là những người cung cấp hàng hóa cho xã hội. Sự lớn mạnh của những hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam và do người Việt sản xuất sẽ bảo đảm được đời sống lành mạnh của người Việt, tránh trường hợp hàng hóa Trung Quốc tràn vào, không chỉ lũng đoạn nền kinh tế nước ta mà còn làm suy yếu nòi giống dân tộc ta bằng các độc tố và hóa chất. Chính các vị sẽ là những người quyết định bộ mặt xã hội của Việt Nam ra sao bằng chính các khoản đầu tư của mình. Vậy nên, đã đến lúc cần bổ sung thêm vào khả năng tính toán lợi nhuận của các vị bằng những suy tư mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Những người thuộc phe đối lập đã phải chịu một thời gian dài bị đàn áp, bêu xấu, gây cản trở bằng đủ mọi phương kế, lòng thù hận sẽ khó mà xóa bỏ trong ngày một, ngày hai. Nhưng sự xóa bỏ thù hận lúc này đây chính là một sự trỗi dậy trong trái tim. Ai ai mang dòng máu Việt cũng là đồng bào của chúng ta, họ sai lầm như thế nào cũng là đồng bào của chúng ta. Việc chửi bới “Bên thắng cuộc” không giúp các vị đạt được điều cần có, mà ngược lại, các vị còn tự cô lập mình khỏi đại đa số người dân Việt Nam. Các vị hãy cứ giữ vững tinh thần đấu tranh, đấu tranh mạnh hơn nữa và mục tiêu phải lớn hơn nữa, hãy đấu tranh vì một nước Việt phồn vinh hơn, công bằng hơn, chứ không phải vì quyền lợi Đảng phái hay tổ chức của mình.

Những người lính dù trong lĩnh vực An ninh hay Quốc phòng, đây là lúc các vị cần trỗi dậy để tỉnh táo hơn bao giờ hết để nhìn rõ đâu là địch, đâu là ta. Và để nhìn rõ địch-ta, các vị cần tinh thần yêu nước, như một chuẩn mực để phân định. Sẽ nguy khốn cho một quốc gia làm sao nếu chính những người lính của quốc gia đó không mãnh liệt tinh thần yêu nước.

Đã đến lúc Thế hệ trẻ cần hành động. Thế hệ trẻ không phải đơn giản chỉ trỗi dậy nữa mà cần biến thế hệ mình thành sự trỗi dậy. Một đất nước sẽ ra sao nếu thế hệ trẻ cứ tiếp tục ngủ quên trong phim sến, nhạc sến, đời sống xa hoa của chủ nghĩa tiêu dùng và những toan tính tẹp nhẹp về tiền bạc? Tuổi trẻ là lúc nhựa sống tràn trề nhất, là lúc đầu óc chúng ta cởi mở tiếp nhận tri thức không bị định kiến, là lúc chúng ta say sưa cống hiến cho xã hội, là lúc chúng ta có đủ sức mạnh để khám phá mọi khía cạnh của bản thân mình… Sự trỗi dậy chính là sự thay đổi lựa chọn: tiếp tục sống cuộc sống bạc nhược và tầm thường hay cho sự tồn tại của mình một ý nghĩa cao đẹp hơn.

Và rất nhiều người bạn của tôi, chúng ta nhiều năm ròng chán nản và than thở về thời cuộc; tụm năm tụm ba rượu chè bù khú, tự sướng với nhau; hoặc đóng cửa một mình tìm vui trong sách vở và mộng mị, hoặc sa đà chìm đắm trong ăn chơi sa đọa, nghiện ngập, tình dục, quậy phá… Tôi biết rằng, đó không phải là điều các bạn thật sự thích làm. Tôi cũng biết rằng các bạn tài năng, trí tuệ, nhiều ý tưởng và có khí chất hơn người, nhưng các bạn thiếu động lực. Vậy thì đây là động lực cho các bạn. Trong lúc khó khăn này, nếu các bạn trỗi dậy và sử dụng khả năng của mình đóng góp cho đất nước, có thể rằng đời sống của các bạn khác đi mà tư thế của Việt Nam cũng đổi khác.

Để thay đổi một đất nước không xuất phát từ những gì to tát như thay đổi thể chế hay chủ nghĩa, mà xuất phát từ những điều rất nhỏ, rất cá nhân. Một đất nước chỉ có thể tốt đẹp hơn nếu mỗi con người trở nên tốt đẹp hơn. Và lúc ấy, thể chế cũng thay đổi, chủ nghĩa nào liệu có còn quá quan trọng?

Các bạn và tôi, tất cả chúng ta, đã đến lúc trỗi dậy và đánh thức người khác cùng trỗi dậy. Đã đến lúc Việt Nam phải trỗi dậy cho hôm nay, ngày mai và cho rất nhiều thế hệ sau. Chúng ta hãy cùng nhau tạo dựng ra một phong trào xã hội với cái tên: VIỆT NAM TRỖI DẬY. Và nhớ rằng Việt Nam chỉ trỗi dậy khi bạn, tôi, tất cả chúng ta đều cùng nhau trỗi dậy.

Nếu đồng tình với lời kêu gọi này, các bạn hãy cùng chia sẻ. Không cần thiết phải dẫn nguồn, hãy để lời kêu gọi này đến từ bất kỳ ai. Quan trọng hơn hết: Tất cả chúng ta cùng TRỖI DẬY! 

Anh Hùng trong nước HẪY NỔI DẬY CHỐNG TÀ QUYỀN VIỆT CỘNG  và  TÀU CỘNG

9.6.14

Lão ông 99

Đảng CSVN đúng là một lũ CƯỚP NGÀY! Lão Ông có lời cảnh cáo chúng bây. Tại sao Thằng Minh, Thằng Đồng, Thằng Duẫn không cuốc sới mồ mả ông Mao, ông Mác lên dâng cho quan thầy  lại đi ăn cắp những gì không thuộc của chúng bây để bán.cho Chệt.Chúng bây thừa biết năm 1958, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của VNCH cả thế giới đều công nhận thế mà tập đoàn phản quốc Minh-Đồng-Duẫn lại mang dâng bán cho Chệt Cộng . Việc làm của chúng bây chẳng khác nào bán vịt trời (lele) ngoài biển. Giờ đây lũ Chệt chó bóp cổ chúng bây, chúng bây lại đòi đi kiện. Cũng được, nếu chúng bây nếu biết hối lỗi, hãy hửy bỏ cái chế độ phản dân hại nước của chúng bây và quỳ xuống xin Mẹ VN tha thứ thì may ra VNCH sẽ đúng ra đối đầu với Chệt cộng cho chúng bây. Đúng là hết thuốc chữa: Suốt chiều dài lịch sử, 4 nàn năm chưa từng có một triều đại nào tàn độc, gian ác như lũ cướp ngày CSVN. Chúng bây HÈN VỚI GIẶC ÁC VỚI DÂN, cướp nhà cướp đất cưa dân mình dâng cho giặc để được vinh thân phì da. 
Ông đã một lần bị chúng bây lừa bịp chống Pháp chống Mỹ cứu nước nhưng thực chát chúng bây chỉ là lũ "cỗng rắn cắn gà nhà", mang điêu linh trồng vào đầu dân tộc.
Tổ cha chúng bây, trước cảnh nước mất nhà tan, ông khuyên chúng bây hãy sớm tỉnh ngộ quay  về đại nghiã của dân tộc, nếu chậm chân bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát chúng bây.trong một ngày không xa.
Lão ông 99 tuổi cùng thới với HCM,PVD,LD,TC.

8.6.14

Hồ gươm nỗi sóng


Người tứ xứ biểu tình chống Tầu đỏ tại Tokyo mang theo cờ vàng.
Chuyện gì đang xẩy ra?

Hồ Gươm nổi sóng!

Nguyễn Trà Vinh Tue, 06/03/2014 - 10:48
http://www.thongtinducquoc.de/sites/default/files/images/tokyo-4.JPG
Tại sao đồng bào ngoài nước lại bảo vệ lá cờ (vàng 3 sọc đỏ) này một cách kiên quyết như thế !?
 
Tôi ra Hồ Gươm thật sớm, sau khi nhận được dòng tin ngắn từ Th., một người bạn thân đang sống tại Tokyo rằng sẽ có biểu tình vào trưa nay, ngày 31/5 để phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Và cũng từ người bạn này, bằng thiết bị viễn thông di động, tôi thức dậy sớm hơn mọi ngày vì nôn nao được nhìn cũng như nghe từng tiếng hô nức lòng vang dội giữa thủ đô xứ Phù Tang, nơi tôi đã trải qua một quãng đời tuổi trẻ với nhiều kỷ niệm đẹp.
10h sáng Hà Nội, sau ngụm cà phê cuối cùng của quán cóc cạnh bờ hồ, tìm đến một ghế đá dưới tàng cây sấu rậm, vừa kín đáo tránh được tia nắng quái ác của trời hè, quan trọng nhất là tránh được công an, bật máy lên tôi có thể nhận ra ngay địa điểm tập trung chỗ tượng con chó đá ga Shibuya, Tokyo lúc ấy đã có nhiều người đến lo công tác chuẩn bị, giăng cờ, băng rôn, biểu ngữ….Thú thật là đã hơi chóa mắt vì hàng cờ của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ mang nợ máu với Trung quốc như Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, Việt Nam….cũng như hiệu kỳ của các đoàn thể đấu tranh dân chủ đã tề tựu đông đủ trong cuộc tuần hành này; tuy nhiên, nhiều nhất và nổi bật nhất vẫn là quốc kỳ Nhật Bản và cờ vàng ba sọc đỏ đã được đại đa số đồng bào hải ngoại trân trọng như một biểu tượng của tự do.
Chín năm học tập và làm việc tại Tokyo đã cho tôi cơ hội tìm hiểu tại sao đồng bào ngoài nước lại bảo vệ lá cờ này một cách kiên quyết như thế trước một thời cuộc nhiều biến động, nhiều nhạy cảm. Tôi đã từng phân vân, tại sao người ta cứ ôm giữ cứng ngắc biểu tượng của môt chính thể đã biến mất. Tôi đã hỏi, lắng nghe, và nhận được nhiều câu trả lời để có thể rút ra một ý niệm chung rằng trong thời điểm hiện nay thì cờ vàng và chỉ có cờ vàng mới là biểu tượng đối kháng duy nhất, mạnh mẽ nhất và dứt khoát nhất với cờ đỏ của CSVN, đại diện cho độc tài đảng trị đã đưa đất nước này vào tối tăm và khiếp nhược. Một chính thể dù đã qua đi nhưng chính nghĩa và các giá trị phổ quát của nhân loại mà nó đã chiến đấu, bỏ xương bỏ máu để giành lấy thể hiện qua lá cờ đó làm sao có thể mai một. Từ đó, tôi hiểu ra rằng sự tồn tại của cờ vàng cho đến ngày cờ đỏ sao vàng biến mất chính là ý định của lịch sử!
 
http://www.thongtinducquoc.de/sites/default/files/images/tokyo-1.JPG
 
http://www.thongtinducquoc.de/sites/default/files/images/tokyo-2.JPG
 
10h30 Hà Nội tức 12h30Tokyo. Đang chìm đắm trong suy nghĩ về lá cờ thì chợt bừng tỉnh khi tiếng loa phát động cuộc mít-tinh bắt đầu bằng diễn từ hùng tráng của đại diện các đoàn thể tham dự. Nhiều năm sống với người Nhật giúp tôi hiểu rằng đây là một dân tộc ít nói do đức tính khiêm cung và thận trọng đã được hun đúc từ thưở nhỏ. Ít người Nhật nào mạnh dạn trình bày thẳng thắn ý kiến của mình vì muốn tránh đụng chạm tối đa đến tự ái của đối tượng. Tuy nhiên, cuộc mít-tinh này có khác. Nguy cơ bị bành trướng Bắc Kinh xâm lấn đã được thể hiện môt cách rạch ròi, cương quyết qua các khẩu hiệu đanh thép mà tôi có thể nghe rõ mồn một từ earphone: “Nếu để mất một tấc đất, sẽ mất một giang sơn”. Những tiếng hô vang sau đó chứng tỏ đã đạt được sự đồng tình cao độ của tất cả gần nghìn người hiện diện đến từ nhiều dân tộc khác nhau, có thành phần xã hội từ giáo sư đại học, chính trị gia cho đến những anh em du sinh, hợp tác lao động. Tôi hiểu ra một điều nữa, đoàn kết giữa các dân tộc đã cao như thế, huống chi là đoàn kết trong nội bộ của một dân tộc trước họa ngoại xâm. Phát huy lòng yêu nước của toàn thể dân tộc này là biện pháp cốt lõi duy nhất để từ đó tranh thủ sự ủng hộ, bênh vực của thế giới. Đó là cách làm duy nhất và không thể ngược lại hoặc khác hơn. Những trấn áp của công an Việt Nam vừa qua đối với biểu tình ôn hòa tại Sài Gòn, Hà Nội vin cớ là tránh bạo động làm sao có thể dập tắt được ngọn lửa sôi sục của tất cả con dân Việt Nam. Chỉ cần một giọt máu của những người giữ biển nhỏ xuống, bản lĩnh tự cường của dân tộc này rồi sẽ trổi dậy mà thôi.
 
http://www.thongtinducquoc.de/sites/default/files/images/tokyo-3.JPG
Ngày xưa, khi chưa có gì, người Cộng Sản rất giỏi trong việc kích động, khơi dậy căm thù, còn bây giờ sau khi đã giành được chính quyền, đã có tư quyền đặc lợi, họ trở nên dị ứng với tinh thần yêu nước của nhân dân chỉ vì sợ đụng chạm đến các quyền lợi bất chính đang có đó, cho nên, họa ngoại xâm rành rành trước mắt hiện nay đã được Đại tướng Phùng Quang Thanh, người đứng đầu quân đội có nhiệm vụ giữ nước xem như “mâu thuẫn bất đồng trong gia đình” và còn phán thêm “quan hệ giữa Việt nam và nước bạn láng giềng Trung quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp” tại diễn đàn đối thoại Shangri–La vừa qua. Quả là hạng siêu hèn! Nhà nước này cần nên nhớ rằng phát huy lòng yêu nước không phải là sách động bạo lực nhưng chính là để tăng cường niềm xác tín vào sức mạnh và bản lĩnh bất khuất của dân tộc trước khi thực hiện các giải pháp tạo áp lực khác.
Lại môt lần nữa, tiếng hô xuất phát trong earphone của đoàn người tuần hành từ Shibuya đã làm tôi trở về với diễn tiến tại Tokyo. Men theo đại lộ Roppongi song song với trục cao tốc hướng tâm số 3, ngang qua những tuyến phố phồn hoa đông người nhất của Đông Kinh bao quanh Bộ Quốc Phòng Nhật Bản, đoàn biểu tình hô vang khẩu hiệu “Châu Á liên kết ngăn chận Trung quốc xâm lược” hoặc “Hãy cứu lấy châu Á khỏi Trung Quốc xâm lược”, trong đó, đối với tôi, ấn tượng nhất vẫn là băng rôn nền xanh chữ trắng ghi “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” bằng 2 thứ tiếng Nhật - Việt, bởi lẽ là một người Việt Nam sống trên đất nước mình nhưng tôi vẫn chưa có cơ hội chính thức được thét to những câu chữ thỏa lòng như thế. Các khẩu ngữ cũng đã vạch rõ tính chất xâm lược của vấn đề hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển chủ quyền của đất nước. Đây không phải là câu chuyện của tranh chấp và càng không phải là câu chuyện bất hòa trong gia đình như phát biểu dấm dớ của ông Đại Tướng nêu trên. Đây là hành vi xâm lược, trắng trợn, ngang ngược và nhất là đã được âm mưu sửa soạn bài bản từ rất lâu. Do đó thái độ cần có là thái độ chống xâm lược bất khả tương nhượng, chứ không phải là vuốt ve qua quít để dĩ hòa vi quí. Qua màn hình thiết bị điện tử, tôi cũng đã thấy nhiều người Nhật đi đường cũng như từ trong các tuyến phố chạy ra chụp hình, vỗ tay hoặc bắt tay khích lệ, cũng đã có người còn nhập dòng đi chung với đoàn biểu tình. Điểm đáng chú ý nữa là người của mỗi nước ngoài việc cầm cờ nước mình còn cầm cờ và giăng hộ biểu ngữ cho các nước khác và đoàn thể bạn. Đến đây tôi không khỏi bức xúc khi nghĩ đến sự tương phản trong phát biểu yếu kém của Đại Tướng Bộ trưởng quốc phòng so với những cam kết mạnh mẽ của thủ tướng Abe hứa trợ giúp nâng cao năng lực quốc phòng Việt Nam, và trong khi công an đang ra sức trấn áp biểu tình thì người Nhật như hôm nay đây đã xuống đường, mang cờ, gióng tiếng giúp Việt Nam phản đối Trung quốc. Sự giúp đỡ này chắc chắn chỉ có thể bền vững khi nhà cầm quyền Việt Nam có được thái độ cương quyết đáng tin cậy, đồng điệu với tình cảm của bạn bè năm châu và huy động được sức bật của mọi thành phần dân tộc. Những bước chân hăm hở của đoàn người biểu tình này, ngoài sự chia sẻ, đồng tình với những người Việt Nam yêu Tổ quốc, nên được hiểu còn là một áp lực để chính quyền Cộng Sản mau chóng khắc phục ươn hèn, quay về hội tụ trong khát vọng cứu nước của toàn dân.
 
http://www.thongtinducquoc.de/sites/default/files/images/tokyo-5.JPG
 
http://www.thongtinducquoc.de/sites/default/files/images/tokyo-6.JPG
Năm cây số đi qua của đoàn người trưa ngày thứ Bảy 31/5 giữa lòng Đông Kinh chắc chắn không chỉ để lại trong lòng từng người tham dự âm vang khát vọng về vẹn toàn lãnh thổ, đó còn là hình ảnh khó nhạt nhòa trong tâm khảm của rất nhiều người yêu chuộng hòa bình, căm ghét sự ngang ngược của Trung Cộng trên thế giới. Từ Tokyo, một trục đạo của châu Á và thế giới, gần nghìn tiếng hô đả đảo Trung Cộng xâm lược này nhất định không phải là một hiệu quả nhỏ bé nhằm kết tập tình liên đới của những dân tộc từng là nạn nhân của Bắc Kinh bạo ngược. Senkaku Nhật Bản, Hoàng Trường sa Việt Nam, bãi cạn Scarborough Philippine, Tây Tạng lưu vong, uất hận Tân Cương…châu Á đang đi lại gần nhau, chung tay quyết chống hung tàn để mưu cầu hòa bình ổn định.
 
15h30, cuộc tuần hành tại Tokyo chấm dứt cũng là lúc nắng nóng lên đến đỉnh điểm trong ngày tại Hà Nội. Bên kia hồ Gươm, cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn đỏ hòa trong màu Phượng vĩ vào mùa, non sông này đối với tôi đẹp như nghìn đời và phải giữ lấy nó cho bằng mọi giá. Dưới chiếc nón mê của người phụ nữ nghèo bán kẹo lạc ven hồ, của anh công nhân ì ạch nắng cháy công trình xây dựng, dưới biết bao lam lũ Việt Nam, tôi tin chắc là khi vận nước tới hồi, bằng mọi giá họ sẽ vùng lên, quật khởi, không ngao ngán trước quân thù xâm lược truyền kiếp. Một lần nữa cho tôi cảm ơn Th., đã thông báo, nối kết tôi vào thời khắc hào hùng của đoàn người biểu tình ngày cuối tháng Năm, 2014.
Nguyễn Trà Vinh
Hà Nội, ngày nghỉ hè đầu tiên 2014.

CỘNG ĐỒNG

http://www.thongtinducquoc.de/sites/default/files/images/tokyo-1.JPG
 



6.6.14

“Biên-Bản Thành-Đô”,

Thái-Dương Thành, JUN-06-14
 
- Kính cẩn tuân lệnh cụ TCT (IL) và ông DVT (NY)
- Toàn dân Việt-Nam cần phải biết về :
 
“Biên-Bản Thành-Đô”,
Do lũ côn-đồ,
NGUYỄN-VĂN-LINH cẩu,
ĐỖ-MƯỜI bưng bô.
 /_
Ký giao nước Việt,
Cho lũ giặc Tàu.
Xin mọi đồng-bào,
Phổ-biến nhau biết.
/_ 
Toàn công-dân Việt,
Phải diệt nội thù.
Đánh đuổi Tàu phù,
Giữ-gìn cương-thổ.
NP
 
PHỔ-BIẾN “BIÊN-BẢN THÀNH-ĐÔ” (*)
 
Xin cùng phổ-biến đến người người.
“Biên-Bản Thành-Đô” năm 90.
Chó đẻ LINH chồn dâng đất cát.
Trâu sanh MƯỜI cẩu bán sông ngòi.
Hãy gào bô-lão gìn cương-thổ.
Xin giục thanh-niên cứu giống nòi.
Lần lửa năm 20 trước mắt,
Không còn nước Việt ở trên đời.
 
TDT, JUN-06-14
Ngô-Phủ
 
(*) “Biên-Bản Thành-Đô” do thằngTBT NGUYỄN-VĂN-LINH và Chủ-Tịch ĐỖ-MƯỜI (phía CSVN) ký với thằng TBT GIANG-TRẠCH-DÂN vàThủ-Tướng LÝ-BẰNG (Phía Trung-Cộng) vào ngày 04 tháng 9 năm 1990
là sẽ xáp nhập VN vào nước Tàu sau đó 30 năm, nghĩa là năm 2020 sắp tới đây.
 
Ước chi :
Nhất trí toàn dân trừ Việt-cộng,
Đồng tâm cả nước đập Tàu-phù.
Ngô-Phủ

Hải quân Nhật, Mỹ, Úc giao lưu ở VN


Hải quân Nhật, Mỹ, Úc giao lưu ở VN

Cập nhật: 10:45 GMT - thứ sáu, 6 tháng 6, 2014

alt
Tàu đổ bộ Kunisaki của Nhật Bản thăm Đà Nẵng
Một tàu hải quân Nhật Bản chở theo binh sĩ Nhật, Mỹ, Úc đã cập Cảng Đà Nẵng, tham dự hoạt động trao đổi đa phương với hải quân Việt Nam.
Tàu đổ bộ Kunisaki thuộc Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản có mặt tại Đà Nẵng sáng 6/6, mở đầu Chương trình Đối tác Thái Bình Dương kéo dài đến 15/6.
Dự kiến các sĩ quan, thủy thủ và nhân viên y tế thuộc hải quân Việt Nam, Nhật, Mỹ, Úc sẽ có các hoạt động giao lưu, chủ yếu liên quan lĩnh vực y tế.
Truyền thông Việt Nam nói chương trình gồm các hoạt động chăm sóc, cấp cứu tại các bệnh viện ở Đà Nẵng.
Lực lượng nước ngoài cũng sẽ giúp sửa chữa trạm xá, tham gia giao lưu bóng đá, văn nghệ.
Trong đoàn có Tư lệnh Chương trình Đối tác Thái Bình Dương 2014 là Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Brian Shipman. Các Phó tư lệnh có Đại tá lực lượng Phòng vệ Nhật Bản Yoichi Masui và Trung tá John Cronnin của quân đội Úc.
Đối tác Thái Bình Dương, đã diễn ra lần thứ chín, là sáng kiến của hải quân Mỹ, sử dụng quân đội cho mục đích nhân đạo.
Phía Mỹ nói đến nay chương trình đã chăm sóc y tế cho 250 ngàn bệnh nhân, hoàn thành 170 dự án xây dựng, giúp phát triển hạ tầng tại 14 nước, trong đó có Việt Nam.
Sự kiện diễn ra trong lúc đang có căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc sau khi Trung Quốc điều một giàn khoan vào vùng biển cách thành phố Đà Nẵng 170 hải lý.
alt
Hải quân Nhật được đón chào tại Cảng Đà Nẵng
Sau chặng dừng ở Việt Nam, tàu Kunisaki sẽ đến Campuchia và Philippines.

‘Cảm ơn’ Nhật Bản

Nhân sự kiện này, hôm 5/6, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trần Thọ và Chủ tịch UBND thành phố Văn Hữu Chiến đã tiếp Đại sứ Nhật Bản Hiroshi Fukada.
Tường thuật của trang mạng chính thức thành phố Đà Nẵng nói hai lãnh đạo thành phố “cảm ơn” Nhật Bản vì “kịp thời lên tiếng phản đối hành động sai trái của Trung Quốc khi hạ đặt giàn khoan HD 981 trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”.
Lãnh đạo Đà Nẵng nhắc lại lập trường của Việt Nam rằng hành động của Trung Quốc “không chỉ gây hấn đối với Việt Nam mà còn với nhiều nước khác, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình ổn định trong khu vực”.
Đại sứ Nhật được dẫn lời nói ông “đánh giá cao sự ứng phó bình tĩnh mà kiên quyết, thái độ thiện chí vì hòa bình của Việt Nam trong sự việc này”.
“Chính phủ Nhật Bản cũng đã tác động đến các nước ASEAN, Mỹ, Úc để vận động họ cùng đoàn kết hợp tác ủng hộ Việt Nam,” theo tường thuật của chính quyền Đà Nẵng.

Chỉ có kẻ ngu mới chống Hoa Kỳ


Chỉ có kẻ ngu mới chống Hoa Kỳ

LyQuangDieuMỹ nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số một
Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.
Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin , Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.
Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này
Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam . (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.
Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.
Ví dụ như Việt Nam , là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.
Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam . Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.
Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.
Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.
Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore . Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.
Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.
Cuộc cạnh tranh cuối cùng
Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.
Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.
Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.
Tại sao tôi lại tin vào thành công dài hạn của Hoa Kỳ
Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.
Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.
Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore . Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.
Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.
Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.
Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York . Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge ). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.
Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.
Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York , bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.
Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.
Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.
Lý Quang Diệu