27.11.13

Ca dao mới đang thịnh hành tại Việt Nam


Ca Dao Mới,
đang thịnh hành tại VN ...
Tác giả mấy vần ca dao này là của con trai Luật gia Cù Huy Hà Vũ .
CA DAO MỚI - 2013
Cục đá mà biết nói năng
Dũng Hùng Sang Trọng hàm răng chẳng còn
Có gan ăn cắp chịu đòn
Đảng ta ăn cướp lại còn đánh dân
*
Đố ai đếm được lá rừng
Đố ai giết được Trọng Hùng Dũng Sang
Bốn thằng tứ trụ Việt gian
Để dân nước Việt hân hoan ăn mừng
*
Thu đi để lại lá vàng
Bác đi để lại một thằng họ Nông
Thằng này quả thật chơi ngông
Bảy mươi lấy vợ má hồng đẹp xinh
*
Bắc thang lên hỏi ông trời
Đánh tan cộng sản đợi thời nào đây
Ông trời ổng nói làm ngay
Sửa xong hiến pháp bó tay con à
*
Ngươi về nói với dân là
Nam Quan hải đảo đảng ta bán rồi
Nếu mà dân vẫn cứ ngồi
Ngày mai mất nước thành người Trung Hoa
*
                    Hò ớ ơ... Còn thời buôn nước bán dân
Hết thời đảng lấy dây thung bắn ruồi
Chưa tạc bụt đã nặn b...
Cái thằng y tá mà đòi dạy dân
*
Ngày xưa bác cũng đi tù
Thiếu ăn đói lở sưng vù con chim
Từ ngày đảng bác dựng nên
Trường học thì ít xà lim thì nhiều
*
Chiều chiều ra bến Ninh Kiều (Cần Thơ)
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân
Ai ơi chớ nghĩ mình đần
Đảng kia lãnh đạo cù lần gấp đôi
*
Ba cô nhập học đầu năm
Một cô bị bắt hầu Sầm Đức Xương
Mười ba đảng cũng làm luôn
Học theo gương bác chẳng buông em nào
*
Non kia ai đắp mà cao
Lương cộng sản ít cớ sao nó giàu
Hỏi Sang Trọng Dũng một câu
Đảng không suy thoái sao sâu cả bầy
*
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn không mất nước bỏ điều bốn ngay
Chơi dao sẽ bị đứt tay
Đảng đùa với lửa có ngày diệt vong
*

22.11.13

Đãng CSVN .....Đã lừa bịp

QUÂN ĐỘI ĐI THEO ĐẢNG ĐƯỢC GÌ , MẤT GÌ ?

Mai Hoa (*)


Tôi đã từng mất 21 năm trong quân ngũ, thời gọi là “đánh Mỹ”. Bố tôi mất 10 năm bộ đội thời đánh Pháp, cộng lại là 30 năm cầm súng theo đảng. Cả một thời trai trẻ qua đi trong bom đạn, lúc tuổi già nhìn ngẫm lại, thấy cả một thế hệ, đúng ra là hai thế hệ cầm súng theo đảng được mất những gì ?



Năm 1980, thời đánh Tầu, tôi đã có dịp tạt qua Điện Biên Phủ. Khi đứng trên những ngọn đồi A1, Him Lam …. nhìn quanh thung lũng Điện Biên, mênh mông là những ngôi mộ trắng, bạt ngàn là nghĩa địa âm u. Một ý nghĩ xẹt qua đầu tôi như một tia chớp: nếu những con người đã chết dưới nấm mồ này cất được tiếng nói, chắc ai đó sẽ hỏi rằng “cha mẹ tôi, các con cháu tôi bây giờ đã có cuộc sống tốt đep chưa sau gần 30 năm chúng tôi ngã xuống, hy sinh tính mạng cho thành công của đảng ?”.


Hôm nay, ai đã từng đi qua đường mon`Hồ Chí Minh, chắc sẽ ngậm ngùi nhìn những bạt ngàn là mộ, trắng xóa những ngôi mộ nằm cô đơn lạnh lẽo giữa rừng già hoang vu. Các anh một thời hào hùng nghe theo lời kêu gọi của “Đảng Lừa”, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Xác các anh còn nằm lại đâu đó trên đất Lào, Campuchia, trong rừng già Tây Nguyên, trong lòng đất của thành cổ Quảng Trị. Nếu như tình cờ có một tốp nào đó trong các anh nằm vùi thây bên cạnh xác những người lính Quốc gia mien`Nam mà các anh đã trúthàng băng đạn vào họ, đạp dấp thây họ vào chân tường thành, liệu trước lúc nhắm mắt, có ai trong các anh chợt nhận ra một điều:


Ô hay, sao toàn người Việt Nam mình giết nhau vậy nhỉ ? Đau xót thay là cảnh huynh đệ tương tàn. Ai đưa ta đến cảnh này ?


Nếu cộng cả những cuộc chiến tranh biên giới đánh Tàu, đánh Campuchia, cộng cả những con dân đất Việt chết giữa biển khơi chạy nạn công sản, cộng cả những anh lính Cộng hòa hy sinh chống sự xâm lược của Bắc Việt, cộng cả dân thường chết vì bom đạn hai bên, thì cuộc chiến tranh theo Đảng cộng sản đã chất cả một núi cao xác người Việt Nam không dưới 5 triệu. Năm triệu người chết oan vì đảng, kéo theo 10 triệu người cha mẹ mất con, triệu triệu người mất chồng, mất anh em, mất người yêu, bè bạn. Cả một dân tộc Việt Nam còn đau xót qua nhiều năm nữa không nguôi !


Sự mất mát có thể là cần nếu thực sự cho đất nước hồi sinh rạng rỡ. Là người cha, có thể chết đi nếu mạng sống của mình cần để giành lại cuộc sống hạnh phúc, no ấm cho con cháu; sự hy sinh có ý nghĩa làm cho cái chết trở nên nhẹ nhàng và cao đẹp.


Nhưng, chúng ta hãy thử nhìn hiện thực ngày nay. Những kẻ giàu sang, bọn chúng cả một đời chưa phải nghe tiểng súng. Của cải của chúng nó được tích tụ bằng máu xương của bao người lính đã ngã xuống, để cha mẹ già bây giờ đang vật vã gối đất nằm sương vì mất đất, … bao nhiêu con cái của liệt sỹ bây giờ thất nghiệp; bao nhiêu người vợ liệt sỹ phải đi ăn mày ăn xin !


Giữa thời bình nay`, Quân đội nha^n da^n được huy động cùng co^ng an chĩa súng vào dân, để bảo vệ cho lũ tư bản đỏ đi cướp đất của cha mẹ mình !

Quân đội bao năm đã bị đảng cộng sản lừa bịp; đã bao mất mát đau thương cho dân tộc. Ít nhất đã có 5 triệu người Việt Nam đã phải bỏ mạng trong những cuộc chiến tranh liên miên do đảng công sản Việt Nam khởi xướng, có phần góp sức mù quáng củaquân đội.


Hỡi tất cả các bạn sĩ quan, chiến sỹ trong quân đội nha^n da^n VN, chúng ta không thể cứ mù quáng đi theo Đảng Lừanày mãi mãi. Một đất nước dân chủ văn minh, Quân đội chỉ là lực lượng để bảo vệ Tổ quốc, chống giặc ngoại xâm. Quân đội chỉ và vĩnh viễn là của nhân dân, trung thành vì lợi ích của nhân dân, chứ không bao giờ quân đội lại là của một đảng. Xã hội luôn tiến lên và thay đổi , các lực lượng chính trị cũng thay đổi, không có đảng nào là vĩnh cửu, không có chế độ xã hội nào là vĩnh viễn. Chỉ có Nhân dân, chỉ có Dân tộc Việt Nam là vĩnh viễn trường tồn.


M.H.










20.11.13

(Gởi người anh em bên kia giới tuyến

  
BẢN TRƯỜNG CA THỨ BẢY(Gởi người anh em bên kia giới tuyến)
 
Gió thu lạnh, từng lá vàng run rẩy
Cây  trơ cành buồn bã hứng trời sương
Tôi viết tiếp bản trường ca thứ bảy
Chút lòng  người  vong quốc gởi quê hương !
 
Một quê hương bên kia bờ đại hải
Nửa địa cầu vời vợi cánh chim bay
Quê tôi đấy, dân đau thương quằn quại
Tôi xa quê, lòng nhớ qúa, đêm ngày!
 
Xưa, đẹp lắm, từng bờ sông, ngọn núi
Giặc tràn về tất cả trắng màu tang
Hăm mấy năm tôi chờ cơn gió nổi
Tôi đợi  Kinh Kha phất ngọn cờ vàng!
 
Anh hỏi chúng tôi sao yêu đất nước
Lại âm thầm rời bỏ để ra đi
Và chị hỏi vì sao yêu tổ quốc
Cần bàn tay xây dựng lại không về ???
 
Tôi thẳng thắn trả lời anh và chị
Giận cũng đành. Tôi nói thật lòng tôi
Nếu còn đó, một độc tài đảng trị
Tôi có về, về tranh đấu mà thôi !
 
Quê hương đấy nhưng tôi không ở được
Cũng không về đóng góp bởi vì saỏ
Bởi Bác Đảng qúa tham tàn, bạo ngược
Hút máu dân đen, xiết họng đồng bào !
 
Hai chúng ta ở hai bờ giới tuyến
Hai con đường, lý tưởng nghịch chiều nhau
Tôi yêu tự do, công bình, chính thiện
Chế độ do dân lựa chọn, dân bầu
 
Đường anh chị rắc gieo mầm oan nghiệt
Nào giáo điều, nào lừa mị, gian tham
Nào khủng bố, nào tù lao, tiêu diệt
Nên căm hờn đầy dẫy Bắc Trung Nam !
 
Tôi nói thế nếu anh không vui lắm
Thì xin nhìn đất nước một lần xem
Có phải dân lành đói ăn, rách mặc
Chẳng tự do, không một chút nhân quyền ?
 
Dòng Bến Hải, Đảng chia đôi  vĩ tuyến
Rồi Đảng xua quân  xâm lược miền Nam
Có phải Đảng ném thương binh xuống biển
Đoạn tôn danh người ..."mất tích"...vinh quang ?
 
Có phải Đảng đã trả thù ác độc
Dân miền Nam sau khi cướp miền Nam
Nhãn "Cải tạo", mác "khoan hồng, học tập"
Thực chất giết người quỷ quyệt, dã man ?
 
Có phải Đảng chặt cây rừng, trộm gỗ
Để lụt hàng năm nước nổi, dân chìm ?
Cứu trợ gởi về, tiền kia Đảng giữ
Hiện vật nhập khọ Dân đói, đứng nhìn ?
 
Có phải đất dân Đảng thu, Đảng lấy
Dân biểu tình đòi, Đảng trả lại chưa ?
Có phải khắp nơi lòng dân chán ngấy
Những oán hờn cao chất ngất đơn thưa ?
 
Có phải Đảng bán dân làm nô lệ
Hết hạn rồi chẳng nhận họ về không?
Nước người trả. Đảng làm ngơ, mặc kệ
Chỉ dân đen là thân phận khốn cùng!
 
Có phải trẻ thơ bao em thất học
Đêm vỉa hè, ngày bới rác tìm cơm
Trường lớp thiếu nhưng hotel vẫn mọc
Dân không nhà nhưng Đảng lắm sân golf ?
 
Có phải Đảng bôi đen dòng lịch sử
Dạy trẻ thơ thù hận, dối gian không?
Trăm năm trồng người, người thành công cụ
Luồn cúi Nga Tàu,  khinh  rẻ tổ tông
 
Có phải thiếu niên đốt đời xuân trẻ
Để tương lai không  là thoáng phân vân ?
Em gái mười hai môi tô, mắt vẽ
Ai thắp đèn hồng mời mọc thiêu thân ?
 
Có phải Đảng, đỉnh cao ngồi chễm chệ
Trên ngai vàng, lòng chẳng xót thương dân
Kiểu bạo chúa, reo cười trên máu lệ
Trên bạc vàng, trên quyền lực, phi nhân ?
 
Đảng và dân rõ ràng hai giai cấp
Đảng sang giàu, dân nghèo đói,đau thương
Đảng thống trị và người dân bị trị
Đảng tàn hung, dân khốn cực trăm đường !
 
Lệ đã thấm.  Mầm xanh từ lòng đất
Đã nẩy chồi, đang lớn giữa quê hương
Dân Việt Nam với tinh thần bất khuất
Sẽ vùng lên mà rửa mối căm hờn
 
Anh thừa biết những lời tôi nói: ĐÚNG
Nên lo buồn mà chẳng dám nghe thôi
Đừng sợ nữạ Hãy nhìn vào sự thật
Để thương thân và thương đến giống nòi
 
Thế giới ngoài kia từng ngày biến chuyển
Những Bắc Hàn, Đông Đức, những Nam Tư
Khối Cộng Sản đang đi vào cõi chết
Vì lòng người bừng tỉnh giấc hoang mơ...
 
Thì hỡi chị, hỡi anh và hỡi bạn
Cùng chúng tôi, ta bước lại từ đầu
Hãy thành thật cho tình không đơn bạc
Muốn vườn tươi, phải diệt những loài sâu!
 
Muốn đất nước kịp người trong hội mới
Muốn ta không mai một chính đời ta
Muốn dân tộc tương lai không mù tối
Muốn ấm no hạnh phúc tới muôn nhà
 
Thì ta phải đập tan đời áp bức
Phá gông xiềng đòi dân chủ, tự do
Một thể chế chính quyền dân tạo dựng
Phải không anh? dân Việt vẫn mong chờ ???
 
Tôi đang nói với anh lời chí thiết'
Bằng con tim, bằng chân thật, tình người
Anh chẳng muốn nghe như tôi vẫn biết
Trong lòng anh, nguồn thác đã ngầm khơi...
 
Dòng thác đó lớn dần, lan rộng mãi
Trong  trái tim người tiến bộ các anh
Thành những dòng sông hướng về đại hải
Cùng với muôn lòng, đốt lửa đấu tranh!
 
Ngày anh về, quê hương vui biết mấy
Cả ba miền vàng rực bóng cờ xưa
Anh  đọc  lại bản trường ca thứ bảy
Nhìn anh, tôi cười. Mắt biếc. Xinh chưa ???
 
Ngô Minh Hằng
 
 
 
(Gởi người anh em bên kia giới tuyến)
 
Gió thu lạnh, từng lá vàng run rẩy
Cây  trơ cành buồn bã hứng trời sương
Tôi viết tiếp bản trường ca thứ bảy
Chút lòng  người  vong quốc gởi quê hương !
 
Một quê hương bên kia bờ đại hải
Nửa địa cầu vời vợi cánh chim bay
Quê tôi đấy, dân đau thương quằn quại
Tôi xa quê, lòng nhớ qúa, đêm ngày!
 
Xưa, đẹp lắm, từng bờ sông, ngọn núi
Giặc tràn về tất cả trắng màu tang
Hăm mấy năm tôi chờ cơn gió nổi
Tôi đợi  Kinh Kha phất ngọn cờ vàng!
 
Anh hỏi chúng tôi sao yêu đất nước
Lại âm thầm rời bỏ để ra đi
Và chị hỏi vì sao yêu tổ quốc
Cần bàn tay xây dựng lại không về ???
 
Tôi thẳng thắn trả lời anh và chị
Giận cũng đành. Tôi nói thật lòng tôi
Nếu còn đó, một độc tài đảng trị
Tôi có về, về tranh đấu mà thôi !
 
Quê hương đấy nhưng tôi không ở được
Cũng không về đóng góp bởi vì saỏ
Bởi Bác Đảng qúa tham tàn, bạo ngược
Hút máu dân đen, xiết họng đồng bào !
 
Hai chúng ta ở hai bờ giới tuyến
Hai con đường, lý tưởng nghịch chiều nhau
Tôi yêu tự do, công bình, chính thiện
Chế độ do dân lựa chọn, dân bầu
 
Đường anh chị rắc gieo mầm oan nghiệt
Nào giáo điều, nào lừa mị, gian tham
Nào khủng bố, nào tù lao, tiêu diệt
Nên căm hờn đầy dẫy Bắc Trung Nam !
 
Tôi nói thế nếu anh không vui lắm
Thì xin nhìn đất nước một lần xem
Có phải dân lành đói ăn, rách mặc
Chẳng tự do, không một chút nhân quyền ?
 
Dòng Bến Hải, Đảng chia đôi  vĩ tuyến
Rồi Đảng xua quân  xâm lược miền Nam
Có phải Đảng ném thương binh xuống biển
Đoạn tôn danh người ..."mất tích"...vinh quang ?
 
Có phải Đảng đã trả thù ác độc
Dân miền Nam sau khi cướp miền Nam
Nhãn "Cải tạo", mác "khoan hồng, học tập"
Thực chất giết người quỷ quyệt, dã man ?
 
Có phải Đảng chặt cây rừng, trộm gỗ
Để lụt hàng năm nước nổi, dân chìm ?
Cứu trợ gởi về, tiền kia Đảng giữ
Hiện vật nhập khọ Dân đói, đứng nhìn ?
 
Có phải đất dân Đảng thu, Đảng lấy
Dân biểu tình đòi, Đảng trả lại chưa ?
Có phải khắp nơi lòng dân chán ngấy
Những oán hờn cao chất ngất đơn thưa ?
 
Có phải Đảng bán dân làm nô lệ
Hết hạn rồi chẳng nhận họ về không?
Nước người trả. Đảng làm ngơ, mặc kệ
Chỉ dân đen là thân phận khốn cùng!
 
Có phải trẻ thơ bao em thất học
Đêm vỉa hè, ngày bới rác tìm cơm
Trường lớp thiếu nhưng hotel vẫn mọc
Dân không nhà nhưng Đảng lắm sân golf ?
 
Có phải Đảng bôi đen dòng lịch sử
Dạy trẻ thơ thù hận, dối gian không?
Trăm năm trồng người, người thành công cụ
Luồn cúi Nga Tàu,  khinh  rẻ tổ tông
 
Có phải thiếu niên đốt đời xuân trẻ
Để tương lai không  là thoáng phân vân ?
Em gái mười hai môi tô, mắt vẽ
Ai thắp đèn hồng mời mọc thiêu thân ?
 
Có phải Đảng, đỉnh cao ngồi chễm chệ
Trên ngai vàng, lòng chẳng xót thương dân
Kiểu bạo chúa, reo cười trên máu lệ
Trên bạc vàng, trên quyền lực, phi nhân ?
 
Đảng và dân rõ ràng hai giai cấp
Đảng sang giàu, dân nghèo đói,đau thương
Đảng thống trị và người dân bị trị
Đảng tàn hung, dân khốn cực trăm đường !
 
Lệ đã thấm.  Mầm xanh từ lòng đất
Đã nẩy chồi, đang lớn giữa quê hương
Dân Việt Nam với tinh thần bất khuất
Sẽ vùng lên mà rửa mối căm hờn
 
Anh thừa biết những lời tôi nói: ĐÚNG
Nên lo buồn mà chẳng dám nghe thôi
Đừng sợ nữạ Hãy nhìn vào sự thật
Để thương thân và thương đến giống nòi
 
Thế giới ngoài kia từng ngày biến chuyển
Những Bắc Hàn, Đông Đức, những Nam Tư
Khối Cộng Sản đang đi vào cõi chết
Vì lòng người bừng tỉnh giấc hoang mơ...
 
Thì hỡi chị, hỡi anh và hỡi bạn
Cùng chúng tôi, ta bước lại từ đầu
Hãy thành thật cho tình không đơn bạc
Muốn vườn tươi, phải diệt những loài sâu!
 
Muốn đất nước kịp người trong hội mới
Muốn ta không mai một chính đời ta
Muốn dân tộc tương lai không mù tối
Muốn ấm no hạnh phúc tới muôn nhà
 
Thì ta phải đập tan đời áp bức
Phá gông xiềng đòi dân chủ, tự do
Một thể chế chính quyền dân tạo dựng
Phải không anh? dân Việt vẫn mong chờ ???
 
Tôi đang nói với anh lời chí thiết'
Bằng con tim, bằng chân thật, tình người
Anh chẳng muốn nghe như tôi vẫn biết
Trong lòng anh, nguồn thác đã ngầm khơi...
 
Dòng thác đó lớn dần, lan rộng mãi
Trong  trái tim người tiến bộ các anh
Thành những dòng sông hướng về đại hải
Cùng với muôn lòng, đốt lửa đấu tranh!
 
Ngày anh về, quê hương vui biết mấy
Cả ba miền vàng rực bóng cờ xưa
Anh  đọc  lại bản trường ca thứ bảy
Nhìn anh, tôi cười. Mắt biếc. Xinh chưa ???
 
Ngô Minh Hằng
 
 
 

17.11.13

CẦN CHẤM DỨT BỊP DÂN."


 bạn đọc thân mến,
Bài mới xin gởi đến quý vị rất mong được phổ biến rộng rãi.
Thân mến
Nguyễn Quang Duy
CẦN CHẤM DỨT BỊP DÂN.
Nguyễn Quang Duy

Không biết bên trong Hội Nghị 8 chuyện gì đã xảy ra? Chỉ biết sau đó Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng biểu lộ ý tưởng phải kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội dù “…xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hòan thiện ở Việt Nam hay chưa.”
Khi ý tưởng của ông Trọng còn đang được bàn tán xôi nổi lại xuất hiện 3 Youtube các lời phát biểu của Giáo sư Trần Phương góp ý cho Hội thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XI tổ chức vào khỏang tháng 10-2010. Được biết Giáo sư Trần Phương nguyên Phó thủ tướng và hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, chính ông Phương đã đặt vấn đề đến hết thế kỷ này không biết đã hình dung được chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam hay chưa.
Mục đích của Giáo sư Trần Phương là khuyến cáo đảng Cộng sản đừng tiếp tục bịp dân, cần đoạn tuyệt với chủ nghĩa xã hội Marx Lenin để theo con đường kinh tế thị trường, thực hiện xã hội dân sự, dân chủ và pháp quyền.

Chỉ Là Bịp Dân
Giáo sư Trần Phương cho biết tất cả những dự báo của Marx về chủ nghĩa xã hội và về chủ nghĩa cộng sản là sai. Chủ nghĩa xã hội mà ông Marx dự kiến là xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, lấy chế độ công hữu làm nền tảng, thu hẹp và xóa dần cái kinh tế tư nhân và thị trường tự do, rồi phân phối theo lao động nhằm thực hiện công bằng xã hội đều chỉ là ảo tưởng. Thực tế đã chứng minh nó sai. Vì nó sai nên sau 70 năm xây dựng tại Liên Xô, người dân nước này đã dứt khoát từ bỏ nó.
Trong trường hợp Việt Nam nó cũng đã thất bại. Giáo Sư Phương cho biết: “Thất bại thì rõ ràng rồi! nói chế độ công hữu, thì chế độ công hữu làm mất động lực của xã hội, phải trở lại chế độ tư hữu đấy. Nói là chuyên chính vô sản, thì phải trở lại chế độ dân chủ đấy. Nói là phải kế hoạch hóa tập trung, cuối cùng phải trở lại kinh tế thị trường đấy. Đó là một sự thất bại rõ ràng rồi, thế thì nói cái gì đây? Cho nên, nói chủ nghĩa Marx-Lenin là nền tảng tư tưởng của đảng ta, thì tôi không hiểu, xác định nền tảng tư tưởng, thì cái gì là nền tảng, còn cái gì không là nền tảng?”
Ông Phương còn cho biết “Ngay Đại Hội X, tôi đã phát biểu thẳng với các anh lãnh đạo rồi. Tôi nói là, định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì, phải ghi ra. Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta tiến tới là cái gì, phải ghi ra. Nhưng mà một câu thách đố đơn giản như vậy mà họ không làm nổi”.
Ông Phương kết luận khái niệm chủ nghĩa xã hội được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ: “Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác. Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái chủ nghĩa xã hội mà chúng ta sẽ đi là cái chủ nghĩa xã hội gì đây?”
Về Cương lĩnh của đảng Cộng sản, Giáo Sư Trần Phương nhận xét: “Cương lĩnh tức là cái đảng này phải tiến lên đến đâu, nó đi theo con đường nào. Thế mà cương lĩnh, nói chủ nghĩa Marx – Lenin, thì chủ nghĩa Marx – Lenin có điều đúng và có điều sai, nhất là những dự đoán của Marx và Lenin về cái gọi là chủ nghĩa xã hội, sai rồi, mà rõ ràng là thực thi 70 năm đã thất bại rồi… Cho nên tôi đề nghị là nếu muốn trung thực thì cái cương lĩnh đó phải xác định cái định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì? Mà cái chủ nghĩa xã hội theo đuổi, nó sẽ là cái gì.”
Giáo Sư Trần Phương tiếp tục nhận định vì không có nền tảng tư tửơng nên đảng Cộng sản chẳng đưa ra được chiến lược xây dựng công bằng xã hội nào. Theo ông Phương, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, đến trên 70 phần trăm dân số sống tại nông thôn, đảng Cộng sản lại không mấy ngó ngàng đến nông dân và nông thôn. Bởi thế nông thôn xưa đã nghèo và lạc hậu nay vẫn thế. Thậm chí còn tệ hại hơn xưa.

Chủ Nghĩa Xã Hội mang mầu sắc Trung Quốc
Mặc dù nhận định đảng Cộng sản không tư tưởng, không hướng đi, không biết đang làm điều gì, chỉ nói để bịp người dân. Trong ba bài phát biểu Giáo Sư Trần Phương không nhắc đến lý do đảng Cộng sản vẫn tiếp tục tồn tại là nhờ dựa vào mô hình tư bản nhà nước.
Nhà nước nắm cả độc quyền kinh tế lẫn chính trị, tận khai tài nguyên và nhân lực gia tăng xuất cảng chiếm thị trường thế giới. Bởi thế tất cả những sai lầm của mô hình nhà nước tư bản nói trên, như bóc lột nhân công, cướp đất nông dân, tham nhũng, cửa quyền, bất công và bạo lọan xã hội, thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều đã bộc lộ nguyên hình.
Trung Quốc là một nước lớn và đảng Cộng sản Trung Quốc biết rõ tại sao họ áp dụng mô hình này, bởi thế khi mô hình được áp dụng vào Việt Nam nó lại bộc lộ những yếu điểm của đảng Cộng sản Việt Nam. Thí dụ trong khi cán cân thương mãi quốc tế Trung Quốc bội thu và trở thành người chủ nợ lớn nhất thế giới, thì ngược lại Việt Nam bội chi và nợ nần thế giới ngày càng chồng chất.
Biết rõ nhưng yếu điểm của mô hình đang đeo đuổi, Hội nghị trung ương 3 khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng bí thư Tập Cận Bình cho biết “những sai trái trong hệ thống và cơ chế phải bị loại bỏ”. Theo hãng Reuters đưa tin: "Vấn đề cốt lõi là cần làm rõ mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường, cho phép thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực và cải thiện vai trò của chính phủ".
Những lĩnh vực sẽ phải cải cách mạnh mẽ, gồm thủ tục hành chính, các ngành công nghiệp độc quyền, đất đai, hệ thống thuế và tài chính, quản lý tài sản nhà nước, chính sách mở cửa và cải cách. Theo đó, chính phủ sẽ sử dụng các công cụ thuế và tài chính để giám sát thị trường ở tầm vĩ mô.
Trong khi ấy, đảng Cộng sản Việt Nam lại vẫn chưa chấp nhận những sai trái trong hệ thống và cơ chế, vẫn tiếp tục lừa bịp người dân phải kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội lấy chủ nghĩa Marx Lenin làm nền tảng.

Cuộc Đấu Tranh Tư Tưởng
Những lời phát biểu của Giáo Sư Trần Phương phần nào xác nhân một cuộc đấu tranh tư tưởng bên trong và bên trên của đảng Cộng sản đang xảy ra và dường như cuộc đấu tranh này đã bước sang một giai đọan mới.
Ngày 9-11-2013 vừa qua, phát biểu trong Ngày Pháp luật Việt Nam, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Hiến pháp năm 1946 thấm đẫm tư tưởng dân chủ pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi trọng các giá trị quyền con người, quyền công dân, đã trở thành tiền đề pháp lý đặc biệt quan trọng cho việc thiết lập một chính quyền dân chủ, mạnh mẽ và sáng suốt”. Ông cho biết “Nhà nước phải được tổ chức, hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật và phải được kiểm soát bằng chính Hiến pháp và pháp luật”.
Các phát biểu trích dẫn bên trên rõ ràng mâu thuẫn với tuyên bố của ông Nguyễn Phú Trọng “Hiến Pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương Lĩnh của đảng” . Và thật vô cùng phũ phàng khi một đảng với Cương Lĩnh chỉ gồm những điều bịp bợm lại áp đặt như Hiến Pháp một quốc gia.

Mô Hình Tự Do Dân Chủ Xã Hội
Trong bài phát biểu, Giáo sư Trần Phương cho biết: “Nói là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà ông cóc hiểu dân chủ xã hội chủ nghĩa khác cái dân chủ tư sản là cái gì! Trong khi đó ông mời hết các cái thằng luật gia của chủ nghĩa tư bản nó đến nó dạy ông.” Giới trí thức Hà Nội như Giáo Sư Trần Phương đến nay chỉ thảo luận quanh hai từ “dân chủ”. Thực ra chính tự do, và nhất là tự do chính trị, mới chính là động lực phát triển quốc gia.
Giáo sư Phương cũng nhắc đến hai quốc gia Thụy Điển và Na Uy, hai nước Bắc Âu thường được giới trí thức Hà Nội xem như mô hình thành công của chủ nghĩa xã hội dân chủ.
Trong bài “Tù Mù Về Chủ Nghĩa Marx” người viết đã giải thích các quốc gia Bắc Âu là những quốc gia tự do. Họ đều là những quốc gia tự do và dân chủ nhất trên thế giới. Các đảng dân chủ xã hội tại các quốc gia Bắc Âu không theo bất cứ một chủ thuyết nào, họ chỉ theo khuynh hướng xã hội và sử dụng đấu tranh nghị trường thực hiện xã hội tự do dân chủ công bằng và bình đẳng.
Chính nhờ hệ thống đa đảng, cương lĩnh của các đảng dân chủ xã hội Bắc Âu đã phải tự thay đổi để thích ứng với hòan cảnh chính trị. Thí dụ các đảng dân chủ xã hội từ các đảng của tầng lớp công nhân, ngày nay đã điều chỉnh và trở thành đảng của tòan dân, hay phải ủng hộ các cải cách vi mô, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tạo cạnh tranh và hiệu quả cho nền kinh tế quốc gia.
Chính nhờ sự ưu việt của mô hình tự do dân chủ, càng ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới trở thành các quốc gia tự do. Các quốc gia tự do thì càng ngày càng trở nên tự do hơn. Thế giới đang trở thành một thế giới tự do.

Việt Nam Cũng Sẽ Tự Do
Trở lại trường hợp Việt Nam, gần đây khi sang Hoa Kỳ hai ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết tôn trọng nhân quyền trong đó có quyền chính trị và bảo đảm thị trường kinh tế tự do, để được cứu xét tham gia Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương.
Ngày 12-11-2013, Việt Nam lần đầu tiên có ghế trong Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Bình Minh hứa sẽ "thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền và thành viên Liên Hiệp Quốc".
Chúng ta có thể không tin vào những lời hứa hẹn của giới cầm quyền cộng sản, nhưng những lời hứa của ba ông Sang, Dũng và Minh cho thấy Việt Nam không còn con đường khác hơn con đường tự do. Việc chúng ta có thể làm là một mặt thúc đẩy họ phải thực hiện các cam kết quốc tế. Nếu họ không làm chúng ta cần tích cực tố cáo họ cũng chỉ bịp dân.
Ngược lại, trong một thế giới với một hệ thống thông tin mở, mọi thông tin đều được nhanh chóng phổ biến đến mọi tầng lớp xã hội, thì các khẩu hiệu tiến lên chủ nghĩa xã hội kiểu Marx – Lenin của Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng đều chỉ là bịp bợm và cần phải chấm dứt.
Tự Do, dân chủ, đa nguyên, đa đảng tự nó cũng không thể mang lại công bằng và bình đẳng cho toàn dân.
Muốn ở cuối thế kỷ này đất nước chúng ta có thể đạt được những tiêu chuẩn công bằng và bình đẳng xã hội như các quốc gia Bắc Âu thì những người theo khuynh hướng xã hội vừa phải nỗ lực xây dựng tự do dân chủ, vừa phải không ngừng đấu tranh cải thiện đời sống tinh thần và vật chất của các tầng lớp nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị.
Xã hội công bằng không phải tự nó có được hay do ban bố của giới chức cầm quyền, mà có được từ quá trình đấu tranh nghị viện thông qua các chính sách an sinh xã hội.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
14-11-2013
GS Trần Phương chính thức phát biểu tạ Hà nội: Chủ Nghĩa Xã Hội được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ !
http://www.youtube.com/watch?v=MaZIjlOLWKo&feature=youtu.be

-GS Trần Phương tuyên bố: Chủ nghĩa Xã hội đã thất bại! Chủ nghĩa Cộng sản là ảo tưởng !
     http://www.youtube.com/watch?v=3BhkOu_4TtU (Preview)

-GS Trần Phương xác định: "CHÚNG TA TỰ LỪA DỐI CHÚNG TA VÀ CHÚNG TA LỪA DỐI NGƯỜI KHÁC" (Phần cuối)
http://www.youtube.com/watch?v=mlaPA606M-c

13.10.13

Võ nguyên Giáp . Cảm thương nhưng không tôn kính!



 
Vài suy nghĩ về ông Giáp
Friday, 11 October 2013 19:26
Tác Giả 
Huỳnh Thục Vy
Vị tướng được những người cộng sản xem là “khai quốc công thần” cuối cùng đã trở thành người thiên cổ vào ngày 4 tháng 10 vừa qua. Vậy là, biểu tượng sống về công lao “giành độc lập” và lý tưởng “cách mạng”, tượng đài hữu danh vô thực về một thời “hào hùng” của những người cộng sản đã trở về với cát bụi.
                     alt

Ông ta đã thực sự rời bỏ cuộc chơi, đã từ giã cõi nhân sinh điên đảo này. Không ai biết ông sẽ đi về đâu nhưng ông đã để lại di sản đầy đau đớn và nhiễu nhương, để lại cho tất cả chúng ta một Việt Nam với tiếng ai oán khắp nơi. Thôi thì cũng cầu chúc ông ra đi trong thanh thản, dù ông đã  lặng thinh một cách vô cảm trước biết bao người đã ra đi một cách bi thương  khác.

Là người đã có công khai sinh ra một Việt Nam cộng sản, thiết nghĩ không cần bàn đến chuyện ông có lý tưởng hay không lý tưởng và sự cần thiết hay không của những cuộc chiến tranh vô nghĩa mà ông đã đóng vai trò lãnh đạo quân sự tối cao, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự im lặng của mình trước những trang lịch sử bất công, gian trá và đau thương mà người Việt Nam đã trải qua. 

Không ít người ca ngợi ông là một trí thức lớn, là nhà văn hoá. Tôi không muốn bàn những chuyện ấy nữa vì đã có nhiều tài liệu lịch sử có sẵn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về ông Giáp. Chỉ xin hỏi: Ông đã làm gì khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường kêu gọi dân chủ pháp trị để rồi sau đó bị thất sủng? Nếu là một trí thức lớn thực sự, lẽ ra ông phải biết dân chủ pháp trị cần cho một quốc gia như thế nào trước cả cụ Tường bởi thực tế cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá quốc gia như thế nào? Nếu không nhận ra khiếm khuyết của một chế độ độc tài cộng sản, ông có xứng đáng với danh xưng một đại trí thức? Và cứ cho là ông không biết gì về độc tài- dân chủ nhưng khi luật sư Tường lên tiếng về xã hội dân chủ, ông không có động tĩnh gì, đó có phải là biểu hiện của một nhân cách lớn?

Lại nữa, ông đã ở đâu, đã làm gì khi những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hữu Loan bị đấu tố, bị đọa đày? Ông có chút tủi nhục, cảm thương hay phẫn nộ nào không khi hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong tức tưởi khi Việt Nam Cộng Hoà bị cưỡng chiếm để rồi hàng trăm nghìn người trong số họ đã vùi thân ngoài biển cả? Ông nghĩ gì khi tướng Trần Độ đã dũng cảm lên tiếng rồi bị đàn áp? Ông đã làm gì khi cụ Hoàng Minh Chính đã tỏ thái độ đối kháng để rồi bị bỏ tù? Ông đã đứng bên lề bao biến cố đau thương của đất nước. Đó có phải là vị trí xứng đáng của một trí thức hay không?

Dù họ là ai, một người vừa mới qua đời nên được cầu nguyện cho sự ra đi bình an. Tôi đã rất phân vân khi viết những dòng này. Có nên viết những lời cay đắng cho một người chết không? Có nên kể tội họ khi họ đã mãi mãi không còn khả năng biện bạch? Nhưng quả tình, tôi không viết những dòng này nhắm vào tướng Giáp, tôi viết cho những người còn sống, cho những người  còn bị ám thị bởi cái ảo ảnh hào quang mà những người cộng sản đã tạo ra. Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay sống trong sự lừa gạt đó mà không biết, và cũng không có ý chí vượt thoát ra.

Ông Giáp, vị “đại tướng quân” trong mắt nhiều thanh niên Việt Nam, là người góp công to lớn để tạo dựng và bảo vệ chế độ độc tài tàn bạo này. Ông đã sống quá xa cái tuổi “cổ lai hy” và ra đi trong tình thương yêu của gia tộc, trong sự ngưỡng vọng của nhiều người. Nhưng ông có biết đâu, một người có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác như ông lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục.

Đó chính là một Đặng Ngọc Viết hiền lành, siêng năng bị chính quyền cướp đất, phẫn uất cùng cực đến mức phải ra tay giết chết một quan chức tỉnh Thái Bình rồi tự sát bằng một viên đạn vào tim. Đó là một Thomas Nguyễn Tự Thành-một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương về Việt Nam từ Thái Lan, bị sách nhiễu và phong toả kinh tế liên tục bởi chính quyền cộng sản đến nỗi uất ức quá phải tự vẫn bằng cách thắt cổ vào ngày 3 tháng 10, trước ngày ông Giáp chết một ngày. Tại sao ông lại được vinh danh khi chính ông là một phần nguyên nhân của những cái chết đau đớn ấy?

Tất nhiên, ông Giáp không còn là lãnh đạo đất nước từ lâu, các chính sách, hành động của chính quyền này ông không tham gia. Nhưng chính  cái quá khứ “oai hùng” và  cái hiện tại vô trách nhiệm của ông tạo nên tính chính đáng cho chế độ tàn ác này. Chế độ này vẫn lấy ông ra làm cái bệ đỡ để biện minh cho những hành động bán nước hại dân của họ. Ông là cái phao cứu sinh khi những người lãnh đạo cộng sản đối diện với sự căm phẫn của người dân vì sự tham quyền cố vị của họ. Vậy mà, không hiểu vì tuổi già làm tiêu hao ý chí, vì sự sợ hãi làm xói mòn lương tâm, hay vì danh lợi của con cháu làm tiêu tan tinh thần trách nhiệm mà cho đến những năm cuối đời ông Giáp vẫn lặng thinh trước hiện tình đất nước vật vã dưới chế độ độc tài, vẫn để cho nhà cầm quyền tiếp tục lợi dụng ông cho chế độ bất nhân của họ. (Chỉ có một lần ông lên tiếng yếu ớt cho vấn đề Boxite Tây nguyên)

Giá như ông lên tiếng cổ vũ cho Nhân quyền Tự do thì tiếng nói của ông đã tác động mạnh mẽ đến lương tâm tuổi trẻ và có thể xoay chuyển ý thức của biết bao người dân đang bị ám thị. Một ông Giáp đại tướng quân chắc chắn có khả năng thức tỉnh quần chúng, làm rúng động đảng cộng sản hơn hẳn một Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Phạm Thanh Nghiên hay Phương Uyên chứ? Thế nhưng, ông đã chọn cách sống trong sự co rút và chết trong cờ xí, kèn trống của chế độ cộng sản, hơn là cách sống trong sự phản tỉnh và chết như một chiến sĩ dân chủ. Đáng lẽ tuổi già phải là giới hạn cuối cùng của sự sợ hãi nhưng ông đã để nó đi cùng ông sang tận thế giới bên kia.

Có người nói: chúng ta không ở vị trí của ông nên không thể hiểu hết những gì ông phải đối mặt. Đúng. Chúng ta không hiểu hoàn cảnh và vị trí của ông. Nhưng chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh của những bạn sinh viên vì biểu tình yêu nước mà bị nhà trường đuổi học và  mất cả tương lai không? Chúng ta có từng đặt mình vào vị trí Phương Uyên, cô bé sinh viên phải chịu biết bao nhiêu sợ hãi, tổn thương tinh thần khi bị bắt và giam giữ chỉ vì cô bé biểu thị lòng yêu nước? Hay như hoàn cảnh gia đình tôi, ba tôi ở tù khi chị em chúng tôi còn thơ dại và mồ côi mẹ; mười mấy năm trời gia đình tôi sống trong cảnh bần hàn, thất học và sự khủng bố của chính quyền. Hoàn cảnh của ông Giáp có ngặt nghèo hơn hoàn cảnh của những người kể trên hay không? Hay để dễ hình dung hơn, tình huống của ông có khó khăn hơn tình huống của tướng Trần Độ, của cụ Hoàng Minh Chính hay không? Tôi cho rằng, vấn đề là ở lương tâm và bản lĩnh!

Ông đã ra đi để lại tất cả, một chế độ độc tài dai dẳng,  những mảnh đời oan khuất, những cuộc đàn áp tiếp diễn, những cái chết oan khiên... Nhưng những dòng này không phải để kể tội ông. Quả thật, thế giới này tồn tại trong trạng thái tương đối của mọi giá trị. Nhưng vẫn có cách để phân biệt những trí tuệ và nhân cách lớn CHÂN THẬT với  sự tô vẽ KHÔNG THẬT. Cầu cho ông ra đi được bình an và xin gởi tới ông sự cảm thương cho một kiếp người đa đoan trong thế giới vô minh này nhưng sự tôn kính thì tôi xin giữ lại cho những con người sống với lương tâm, trách nhiệm và ý chí và chết với nỗ lực lên tiếng cho sự thật. Việt Nam còn rất nhiều người để chúng ta thành tâm ca ngợi và kính ngưỡng, nhưng đó không phải là ông. 

HTV - Sài Gòn ngày 6 tháng 10 năm 2013

7.10.13

Cần biết thêm về Võ nguyên Giáp

Võ Nguyên Giáp sanh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha Y là Võ Quang Nghiêm, một hương sư dạy chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ và hành nghề Đông Y như phần lớn các nhà nho lỡ vận. Khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, Ông Nghiêm bị Pháp bắt đưa về giam ở Huế rồi chết trong tù. Mẹ Giáp là Bà Nguyễn Thị Kiên.

Võ Nguyên Giáp là con thứ 6 trong số 8 người con của Ông Bà Võ Quang Nghiêm. Năm 14 tuổi (1925), Giáp vào Huế học trường Quốc Học. Hai năm sau, bị đuổi học, Giáp về quê tham gia Tân Việt Cách mệnh Đảng – một đảng có mầu sắc Cộng Sản được thành lập năm 1924 ở miền Trung.Đầu tháng 10 năm 1930, Giáp bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phú ( Huế ).. Năm 1931, Giáp được thả ra khỏi nhà tù, ra Hà Nội học tại trường Albert Sarraut cho tới khi đỗ Tú tài.Năm 1937, Giáp tốt nghiệp trường Luật tại Hà Nội.Năm 1934, Giáp kết hôn cùng Nguyễn Thị Quang Thái, một đồng chí của ông. Bà Thái có với Giáp một người con gái, Võ Thị Hồng Anh. Năm 1943, Bà Thái bị Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Bà chết trong tù.Tháng 5 năm 1939, Giáp bắt đầu dạy môn Sử tại trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Theo lời thuật của một số người, Giáp là một giáo sư Sử giỏi và hùng biện.Từ năm 1936 đến năm 1939, Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân Chủ Đông Dương. Võ Nguyên Giáp vào Đông Dương Cộng Sản đảng vào năm 1940, bắt đầu các hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Giáp tham gia gây dựng cơ sở và huấn luyện quân sự ở Cao Bằng dù Giáp chưa từng được huấn luyện về quân sự.. Trong đảng Cộng Sản Đông Dương, có lẽ chỉ có Phùng Chí Kiên được theo học một thời gian tại trường Võ bị Hoàng Phố ở Trung Hoa.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo sự phân bố của Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 người. Theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là khởi thủy của đạo quân Cộng Sản Việt Minh sau này.

Tháng 8 năm 1945, Giáp được bầu vào Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.

Tháng 1 năm 1948, Giáp được Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại Tướng. Cùng được phong Tướng có một số tên như Văn Tiến Dũng, Vương Thừa Vũ, Nguyễn Chí Thanh, Đinh Đức Thiện, Lê Trọng Tấn, Trần Đăng Ninh…Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ kéo dài cho tới năm 1954 và chấm dứt ở trận Điện Biên Phủ.

Trên :Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Quang Thuận, Hoàng Đăng Minh, Nhận, Bạch Ngọc Giáp, Sáng ---Dưới: Lê Liêm, Giáp, Hồ, Trường Chinh, Đặng Việt

Từ năm 1945 cho đến năm 1991(năm Giáp nghỉ hưu, hết còn là ủy Viên Trung Ương Đảng) Giáp đã giữ những chức vụ như sau:- Ủy Viên Bộ Chánh trị- Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng- Tổng Tư lệnh Quân Đội- Phó Thủ Tướng- Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa học nhà nước.- Năm 1983, Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch.Chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội là những chức vụ Giáp ở lâu nhất, từ năm 1945 đến năm 1980.Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là môt hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:

Ngày xưa Đại tướng cầm quânNgày nay Đại tướng cầm quần chị em

Sau trận Điện Biên Phủ năm 1954, sự hiện diện của người Pháp cáo chung, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng như cồn. Sau cái gọi là Đại thắng mùa xuân năm 1975 – một may mắn bất ngờ cho đảng Cộng Sản Việt Nam ( một bất hạnh cho dân tộc Việt ) chiếm được miền Nam – trước mắt người ngoại quốc mù tịt về cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp trở thành một huyền thoại.Một số sách viết về Giáp như:- General Giáp: Politician and Strategist của Robert j. O'Neil (Australia)- Giáp: the Victor in Vietnam của Thiếu tướng hồi hưu Peter McDonald In năm 1993 ( British )- Các bài viết rải rác của Douglas Pike thuộc University of California, Berkeley (USA)
Xin mở một dấu ngoặc ở đây về các sách viết về các lãnh tụ Công Sản Việt Nam cũng như các lãnh tụ của các nước Cộng Sản khác trên thế giới. Tác giả phải được sự chấp nhận của Bộ Chính trị và chỉ được viết những gì mà cơ quan quyền lực tối cao của Cộng Sản đưa ra mà thôi.

Giáp được các tác giả ca tụng như một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài tình của thế giới ( genius strategist, geniusgeneral of the world ). Từ mấy năm gần đây, các tài liệu mật về 2 cuộc chiến tại Việt Nam (1946-1954 và 1954-1975 ) được giải mật khiến ta thấy rằng "thiên tài Võ Nguyên Giáp" đã được các đồng chí nặn ra như các đồng chí đã nặn ra anh hùng Lê Văn Tám, chú Kim Đồng…..trong suốt chiều dài của cuộc chiến xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản man rợ lên quê hương mà đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một lũ thừa sai.

Bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo. Giáp có đầy đủ các "đức tính" đó.

Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia (Losers are Pirates by James Banerian1984, p.69
Hồ Chí Minh, Trưòng Chinh, Võ Nguyên Giáp và Trung tá A. Peter Dewey)

Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp sắp xẩy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp.

Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội. Quả thực, Tự Vệ Thành là những thanh niên tiểu tư sản, phần lớn xuất thân từ các gia đình khá giả. Đám tiểu tư sản này là những thành phần không có chỗ đứng trong chế độ Cộng Sản. Càng lợi cho việc thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nếu họ bị Pháp tiêu diệt, bớt đi càng nhiều càng tốt cho chủ nghĩa Mac Xít Léninist dễ phát triển ở Việt Nam.

Giáp đã viết sách về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (được dịch ra tiếng Pháp; Guerre du peuple, l'Armée du peuple ), tự cho rằng mình và đảng Cộng Sản Việt Nam là nguồn gốc của quan niệm chiến lược, chiến thuật này.

Sự thực, quan niệm về chiến tranh nhân dân đã được Tướng Trần Canh, một trong ngũ hổ tướng của Mao Trạch Đông, du nhập vào Việt Nam kể từ trận chiến biên giới Cao Bằng Lạng Sơn năm 1950.

Giáp thực sự không phải là cha đẻ của quân đội Cộng Sản Việt Nam, tuy rằng cuối năm 1944, theo lệnh Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đoàn Võ Trang tuyên truyền gồm 34 thành viên với trang bị rất thô sơ. Quân đội Trung Cộng mới thực sự là cha đẻ của quân đội nhân dân của Cộng Sản Việt Nam.

Tháng 3 năm 1946, 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa tràn qua biên giới, vào Việt Nam để tránh bị các Lộ Quân 46, 64 của Tưởng Giới Thạch tiêu diệt. Chính Trung đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa này đã giúp Cộng Sản Việt Nam huấn luyện Quân đội. Tình báo của Mỹ đã đánh hơi thấy việc Trung Cộng huấn luyện quân đội Cộng sản Việt Nam từ những năm này.

Từ năm 1950, Trung Cộng không ngừng cung cấp người, võ khí và tiếp liệu cho Công Sản Việt Nam. Chính Võ Nguyên Giáp, trong cuốn Đường tới Điện Biên Phủ đã viết: Trong một buổi làm việc ở Moscou với Staline, Mao Trạch Đông, Mao đã hứa trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn. Mao nói: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn (sư đoàn) để đánh Pháp. Trước mặt hãy trang bị 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Có thể đưa ngay một số đơn vị sang Trung Hoa nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽ lả hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Sau đó các đơn vị của quân đội nhân dân lần lượt được đưa sang Tầu để thụ huấn và nhận vũ khí.Theo Giáp: những đơn vị sang Trung Quốc, ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật công kiên, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá. Trước đây, vì chưa có thuốc nổ, ta chưa hề xử dũng kỹ thuật này.

Cũng theo Giáp, chính Hồ Chí Minh đã yêu cầu Tầu Cộng gửi qua Việt Nam một đoàn cố vấn. Theo lời yêu cầu đó, một đoàn cố vấn Trung Cộng khoảng 80 người đã sang Việt Nam, giúp quân Cộng Sản Việt Nam: Lã Quí Ba, Ủy Viên Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trưởng đoàn Cố vấn; Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn về Quân sự: Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu, Cố vấn về công tác hậu cần. Chính các Cố vấn Trung Cộng đã giúp Công Sản Việt Nam tổ chức 3 (ba) cơ chế chánh trong quân đội: Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục chánh trị và Tổng cục hậu cần. Tóm lại ngay trong công việc tổ chức quân đội của Cộng Sản Việt Namm, Giáp chỉ là người thừa hành.
 

Giáp là một tên hèn.Năm 1983, Giáp bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch. Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm xẩy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán…bị đem ra đấu tố, tù đầy. Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn… bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa. Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng. Giáp đã để lộ rõ cái hèn, thủ khẩu như bình.

Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa là Giáp biết cách tránh né để bảo toàn mạng sống.

Khi được một ký giả ngoại quốc hỏi Giáp có hối tiếc gì về số 3-4 triệu người Việt Nam chết vì các cuộc chiến tranh, gọi là chiến tranh ý thức hệ, Giáp đã trả lời là y không hối tiêc gì cả (Non, pas du tout).

Mạng sống của thanh niên Việt Nam bị họ Võ coi như cỏ rác. Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình, Vĩnh Yên vào tháng giêng năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quânđội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.

Trong chiến tranh Việt – Pháp 1946-1954, người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Hoa Cộng Sản như Trần Canh trong những năm 50, sau đó là đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba. Hào quang chiến thắng của Giáp chỉ là một giả tạo, một hào quang do Trung Cộng ban cho.

Chiến dịch biên giới năm 1950.Chiến dịch này nhằm mục đích đuổi quân Pháp ra khỏi biên giới của 2 nước Việt Nam-Trung Hoa để cho việc tiếp vận từ Trung Hoa Cộng Sản cho quân đội của Cộng Sản Việt Nam được dễ dàng. Tướng Trần Canh của Trung quốc sang Việt Nam ngày 22-7-1950. Trần Canh đã áp dụng học thuyết chiến tranh nhân dân của Mao vào chiến tranh Việt Nam.

Kế hoạch tiến công của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới được thay thế bằng kế hoạch tác chiến của Trần Canh. Thay vì tấn công Cao Bằng như kế hoạch của Giáp, Trần Canh đề nghị kế hoạch tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó phục kích tiêu diệt (công đồn đả viện). Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch này. Kết quả trận đánh là quân Pháp thảm bại phải bỏ hết các tỉnh biên giới. Chiến thuật công đồn đả viện của Cộng Sản Việt Nam là do các cố vấn Trung Quốc, nhứt là Trần Canh, truyền thụ cho.

Từ năm 1951, nhóm cố vấn chánh trị do Lã Quí Ba cầm đầu đã giúp Hồ tạo lập luật lệ và chánh sách liên quan đến tài chánh, thuế khóa, quản lý báo chí và đài phátthanh cũng như các chánh sách đối với các dân tộc thiểu số…..

Chiến dịch Tây Bắc 1952Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng Hà năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của các cố vấn Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Lã Quí Ba trách nhiệm hoạch định chiến dịch thay Vi Quốc Thanh về Tầu chữa bệnh. Hồ Chí Minh chấp thuận hoàn toàn đề nghị của Lã Quí Ba. Theo Qiang Zhai (China and the Vietnam wars 1950-1975) cuối tháng 9 năm 1952, Hồ bí mật sang BắcKinh để thảo luận về chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược thắng quân Pháp.Ngày 14-10 Việt Minh tập trung 8 tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bót lân cận.Ngày 16-10 Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng Lã Quí Ba chỉ đạo chiến dịch. Sau khi mất Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 21-11. Việt Minh hoàn toàn chiếm lĩnh một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép họ có thể tiến hành các hoạt động ở Lào.

Đối phó với kế hoạch Navarre – Trận Điện Biên PhủTháng 5-1953, tướng Henri Navarre đảm trách chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương với kế hoạch:1- Kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng2- Bình định các khu do Cộng Sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam3- Mở tổng phản kích tiêu diệt các cứ địa của Việt Minh tại miền Bắc

Navarre cho thành lập các binh đoàn lưu động.Việt Minh Cộng Sản, lúc đầu muốn tập trung quân tại vùng Tây Bắc và Lai Châu, nhưng sau Giáp từ bỏ ý định đó, muốn kéo quân tấn công quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng Hà. Như vậy Giáp hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. Bắc Kinh không đồng ý với kế hoạch của Giáp. Bắc Kinh nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh Cộng Sản có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương.

Tháng 9, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam, phủ quyết kế hoạch của Giáp để theo kế hoạch của các cố vấn Tầu.

Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Vy Quốc Thanh trao cho ông Hồ một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo của Cộng sản Việt Nam nói đề nghị của Trung Quốc là đúng. Cộng Sản Việt Nam, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.

Khi Navarre đưa quân đến Điện Biên Phủ, Giáp và Bộ Tham mưu chưa nhận ra tầm quan trọng của vị trí này. Chính Vy Quốc Thanh là người đã thúc Giáp mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự mà còn có ảnh hưởng quốc tế.
trancanh
Từ trái sang phải : Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Trần Canh, La Quý Ba. Nguồn : QGP Trung Quốc
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ. Giáp chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Người hùng Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đã được cố vấn Tầu nặn ra.

Chính các cố vấn Trung Cộng đã giúp Việt Minh trong các chiến dịch biên giới, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trung Cộng đã chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ 8286 tấn tiếp liệu gồm võ khí, lương thực v.v… Cố vấn TC có mặt ở mọi đơn vị. Thí dụ họ đã giúp Việt Minh bố trí pháo binh trong các hào sâu trên sườn núi để tránh bị phi cơ Pháp phát hiện và phá hủy. Pháo binh của Việt Minh, được các cố vấn Trung Cộng điều khiển, là một bất ngờ cho quân đội Pháp. Nhưng sự tham dự tích cực của Trung Cộng vào sự thành công của chiến dịch không hề được Giáp nhắc tới trong các bài viết, trong các sách của y như cuốn Điện Biên Phủ: điểm hẹn lịch sử. (The Chinese support for the North Vietnam during the Vietnam War; The Decisive Edge by Bob Seals).

Sự giúp đỡ của Trung Cộng không ngừng ở chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Sự giúp đỡ vẫn được tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954-197
phá thai

Ra lệnh phá thai
 

Thí quân không thương tiếc

Sám hối ?

Thay lời kết:

Người hùng Võ Nguyên Giáp, tướng huyền thoại của Cộng Sản Việt Nam chỉ là một nhân vật đại bịp trong số hàng trăm hàng ngàn tên bịp bợm (trong đó có cả tên Hồ), trong quá trình hiện hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Y không phải là một thiên tài quân sự như đảng Cộng Sản Việt Nam thổi phồng.

Chính các cố vấn Trung Cộng do Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba cầm đầu đã đánh thắng quân Pháp trong cuộc chiến 1946-1954 chứ không phải là Giáp. Hào quang của Giáp là do Trung Cộng nặn ra, treo vào cổ Giáp. Sự thực các trận đánh lớn, có tính cách quyết định đều do các cố vấn Tầu Cộng thiết kê và điều khiển.

Giáp đã sống trong cái vỏ thiên tài đó trong hơn nửa thế kỷ. Đến nay thì sự thực đã được phơi bầy:

Trong suốt hai cuộc chiến 1946-1954, 1954-1975, Giáp và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dựa vào Trung Cộng gần như toàn diện. Nay họ đã và đang trả món nợ đó, trả bằng cả số phận của dân Việt, bằng cả đất nước do tổ tiên để lại: quê hương đang mất dần vào tay người Trung hoa Cộng sản.Bs. Nguyễn Lương Tuyền