6.8.14

Sự dối trá cũa CS VN


Vạch trần dối trá cộng sản mọi nơi, mọi lúc là góp phần kết thúc chế độ



Le Nguyen (Danlambao) - Có nhiều nguyên nhân lẫn hậu quả giải thích tại sao tổ tiên ta để lại cho cháu con nhiều kinh nghiệm sống, qua văn chương truyền khẩu, lồng trong các câu chuyện huyền sử, các chuyện cổ tích và những câu ca dao tục ngữ?... Những kinh nghiệm sống truyền đời của tổ tiên nòi Việt phản ánh lời khuyên dạy hữu ích được cô đọng từ thực tiễn đời sống khi đọc lên không kể giới trí thức hoặc bình dân, ai ai đều có thể hiểu được như các câu sau:

“Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê
Cao chê ngỗng, thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra...”

Cùng với những câu đại loại như “ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt...”. Tuyệt nhiên chúng ta không nghe thấy tổ tiên ta nói đến, chưa bàn qua hoặc lưu lại tật xấu liên quan đến“nói dối quen miệng”(?) Nội dung bài viết này sẽ không đào sâu, không đi vào nghiên cứu, phân tích vì sao “nói dối quen miệng” lại không được nhắc đến, không nằm trong kho tàng ca dao tục ngữ nhằm khuyên dạy cháu con của tổ tiên ta?

Có thể “nói dối quen miệng” không được nhắc đến, Không trở thành bài học khuyên dạy cháu con vì nói dối chưa nghiêm trọng, chưa phổ biến đến nỗi cần báo động trong nếp sống dân tộc Việt như thời đại cộng sản trong nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay - một nhà nước được hình thành, được xây dựng trên nền tảng dối trá, được củng cố bằng bạo lực khủng bố của nòng súng, nhà tù, ám sát, thủ tiêu... từ những cá nhân độc ác, tham lam, ngu dốt cộng sản.

Ai cũng biết cộng sản cướp chính quyền, giành độc quyền lãnh đạo nhà nước – xã hội bằng bạo lực khủng bố và chế độ cộng sản tồn tại, phát triển bằng thủ đoạn tuyên truyền dối trá. Dối trá từ cá nhân đến tập thể, từ cơ sở đến trung ương, cả một hệ thống cai trị nắm giữ quyền lực lãnh đạo nhà nước vào cuộc nói dối, thi nhau nói dối. Dối từ báo cáo miệng đến báo cáo láo trên văn bản, dối đến mức trở nên bình thường, không còn tên cộng sản nào thấy xấu hổ, thấy là điều lạ lẫm đáng ngạc nhiên và dối trá thảm thương đến mức người dân phải thốt lên “ mọi thứ đều dối trá chỉ có dối trá là thật.” Thế nhưng “chân lý” dối trá cộng sản không hề thay đổi... dù sông có thể cạn, núi có thể mòn.

Bao năm qua có rất nhiều cá nhân, tổ chức với sự cố gắng vượt bực, nhờ vào công cụ truyền thông hiện đại đã từng bước phá vỡ bức màn bưng bít thông tin, bóc trần dối trá cộng sản từ bên ngoài đảng cộng sản nhưng bên trong nội bộ tổ chức cộng sản vẫn ù lỳ chưa có chuyển biến nào tích cực để đẩy lùi dối trá. Dối trá vẫn bị bưng bít vì quyền lợi cá nhân phe nhóm, vì sự sống còn của đảng cộng sản nên dối trá cộng sản ngày càng được che đậy kín kẻ trong hàng hàng lớp lớp báo đài và gây hậu quả nghiêm trọng hơn cho đời sống người dân cũng như cho sự xây dựng, phát triển của đất nước.

Đối với những người quan tâm theo dõi đến tình hình đất nước - những cá nhân, tổ chức đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam hẳn đều nhận ra Việt cộng dối trá nhằm vào mục đích vinh thân phì da, dối trá để bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ đến cùng, với “tâm niệm” thà mất nước hơn mất đảng nên chúng sẵn sàng bán nước cho Tàu để bảo vệ đảng như băng đảng Việt Cộng đã đang làm. Điển hình là bí mật hội nghị Thành Đô được tờ Hoàn Cầu Thời Báo, tiếng nói chính thức của đảng Tàu Cộng tiết lộ sau nhiều lần nguồn tin “bán nước” không chính thức này bị tiếng nói loa, đài của đảng Việt Cộng bác bỏ, đổ cho các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc nói xấu, chống phá nay thì không thể chối cãi được nữa. Hiệp ước bí mật Thành Đô có đoạn viết như sau:

“... Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây...”

Trong suốt thời gian hình thành, tồn tại và phát triển của đảng cộng sản Việt Nam đã có không ít lần cộng đảng nằm bên bờ sụp đổ nhưng đã thoát hiểm ngoạn mục nhờ vào “thiên tài” dối trá, nhờ vào lòng bao dung, lương thiện của dân tộc Việt và của loài người văn minh tiến bộ. Cụ thể là các hứa hẹn, cam kết dối trá trong sự kiện thành lập Chính Phủ Liên Hiệp năm 1946, sự kiện thực hiện hòa giải hòa hợp dân tộc năm 1975, sư kiện thế giới tây phương hủy bỏ lệnh cấm vận cho cộng sản Việt Nam năm 1994, sự kiện thế giới hào hiệp thu nhận Việt Nam gia nhập vào tổ chức WTO năm 2007...

Cũng như không biết bao nhiêu lần trong quá khứ thành phần người Việt quốc gia yêu nước đã lấy lòng mình đo lòng dạ cộng sản nên không thể hiểu được trong đầu cộng sản Việt Nam chứa gì? Do đó những người yêu nước đã bị cộng sản lừa cho đến trắng tay trắng mắt, không phải một lần mà rất nhiều lần do bản tính lương thiện, hiền lành, nhẹ dạ, dễ tin đối với dối trá cộng sản và bị Việt Cộng đưa vào bẫy, rồi ra tay tàn sát không thương tiếc?

Hiện nay các nước dân chủ văn minh tiên tiến cũng đã, đang bị cộng sản Việt Nam sử dụng “thiên tài” dối trá lừa gạt như chúng đã từng lừa gạt, lợi dụng những người không cộng sản, những người dân Việt Nam yêu nước để nuôi sống đảng, bảo vệ chế độ cộng sản bên bờ vực khủng hoảng toàn diện, với nhiều nguy cơ dẫn đến sụp đổ chế độ nếu không nhận được sự ngây thơ hợp tác của người dân Việt Nam, với sự trợ giúp nhân đạo của Hoa Kỳ và của các nước dân chủ tiên tiến.

Chiêu trò hứa hẹn, cam kết này không lạ, nó cũng giống như nhiều lần cộng sản Việt Nam xuống nước “khóc lóc” để đánh động lòng nhân ái của loài người nhằm nhận được viện trợ quốc tế không hoàn lại lẫn hoàn lại và đến khi thoát chết thì chúng lại khoác lác khoe khoang lãnh đạo tài tình!

Điển hình là cộng sản Việt Nam đang tô son đánh phấn, cố sửa chữa bộ mặt lưu manh trở thành “dễ thương, ngoan ngoãn”lương thiện trước cặp mắt các quan sát viên quốc tế, qua các hứa hẹn sửa đổi những vi phạm luật pháp quốc tế về nhân quyền, về quy định điều lệ bắt buộc phải thực hiện để được gia nhập vào các tổ chức quốc tế nhằm cứu nguy cho chế độ khủng hoảng kéo dài, đang trên đường đi đến sụp đổ kinh tế, kéo theo sụp đổ thể chế chính trị, không cần phải là nhà bình luận thời cuộc chuyên nghiệp ai cũng có thể tiên đoán ra được.

Thế cho nên thời gian gần đây cộng sản Việt Nam lại hứa hẹn, lại cam kết thực thi các cam kết quốc tế chỉ có mục đích duy nhất là nhằm vượt qua cơn khủng hoảng như chúng đã từng hứa hẹn trong quá khứ để cứu nguy đảng, bảo vệ chế độ bằng mọi giá. Hiện nay đảng cộng sản Việt Nam đang diễn trò bày tỏ thiện chí, đáp ứng các điều kiện đòi hỏi của quốc tế qua việc tập trung nguồn lực chính trị, tập trung trí tuệ dối trá cộng sản làm công tác điều nghiên, biên soạn các bản báo cáo “láo” tổng kết “láo” theo yêu cầu quốc tế để tháo gỡ những nút thắt có khả năng làm chế độ tắt thở, nhắm vào mục tiêu duy nhất là nhận được “ống trợ sinh” viện trợ cứu nguy đảng, chế độ cộng sản từ cộng cộng quốc tế.

Những ai sống trong lòng xã hội dân chủ văn minh tiên tiến, ít nhiều đều nhận ra, hầu hết các quan chức trách nhiệm của các nước dân chủ quen lối suy nghĩ trung thực, minh bạch nên không thể nghĩ ra, tưởng tượng ra những điều láo, xảo trá quỷ quyệt nằm trong các bản báo cáo, tổng kết của Việt Cộng, được gởi đến các cơ quan, tổ chức quốc gia, quốc tế để xin gia nhập vào tổ chức kinh tế, xã hội, văn hóa... hoặc xin trợ giúp tài chính từ quỹ tiền tệ quốc tế, ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển á châu...hay xin trợ giúp xóa đói giảm nghèo từ các tổ chức nhân đạo, thiện nguyện của các chính phủ lẫn phi chính phủ và Liên Hiệp Quốc.

Phải công nhận thời gian qua, đảng cộng sản Việt Nam đã thành công với các bản báo cáo láo, tổng kết láo, thông tin láo nhằm lừa gạt những cá nhân trách nhiệm duyệt xét các đơn xin, các bản báo cáo, bản tổng kết của quốc tế, quốc gia lẫn các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, để được viện trợ, trợ giúp nhiều mặt cho Việt Nam để thoát khủng hoảng, cứu nguy đảng và chế độ. Có lẽ không ai là không thấy đảng cộng sản Việt Nam tổ chức cai trị nhà nước như tổ chức cai tù canh giữ trại tù. Từ nhà tù nhỏ mọc san sát trên địa bàn quận huyện, tỉnh thành đến các trại tù nơi rừng thiêng nước độc và nhà tù lớn giam cầm tư tưởng tự do của người dân trên khắp mọi miền đất nước.

Để nuôi dưỡng hơn ba triệu “viên chức” cai tù nắm quyền sinh sát, nắm giữ công cụ bạo lực khủng bố như quân đội, công an, kinh tế, tài chánh, luật pháp, truyền thông... phối hợp với các công cụ trá hình vớ vẩn, viển vông khác như các đoàn thể, tổ chức mặt trận tổ quốc, ban tôn giáo chính phủ, hội nhà báo, hội nhà văn, hội nhà thơ...hội người cao tuổi, hội phụ nữ, đoàn thanh niên...nông hội, công đoàn, dân phòng... bao trùm lên toàn xã hội với nhiệm vụ canh gát, rình rập, đàn áp mọi tiếng nói phản kháng, chống lại cai tù cộng sản phi nhân tính.

Thử hỏi với lực lượng cai tù hùng hậu lãnh lương từ nguồn lực quốc gia, từ tiền thuế của dân, chỉ làm nhiệm vụ canh cửa, rình mò như trộm, hung hăng như cướp... không tạo ra của cải vật chất lại còn ăn cướp, ăn cắp rút rỉa, phá hoại làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia để thỏa mãn bản chất khát máu nặng tính thú, chỉ biết chăm sóc cho bộ lông của chúng nên đảng cộng sản Việt Nam cứ luẩn quẩn trong vòng khủng hoảng chu kỳ... hết khủng hoảng chính trị kinh tế lại chuyển sang văn hóa xã hội, luật pháp đạo đức và cứ thế xoay vòng.

Hiện nay cộng sản Việt Nam đang sa lầy vào vòng khủng hoảng toàn diện, chúng cố vùng vẫy thoát ra và đang hướng tới phao cứu sinh của các nước dân chủ tiên tiến văn minh giàu mạnh để thoát hiểm như chúng đã từng thực hiện kế “gian manh thoát hiểm” trong quá khứ. Biết vậy, nhưng đảng cộng sản Việt Nam vẫn không từ bỏ tham vọng độc quyền quyền lực lãnh đạo, không muốn thoát trung, không muốn lột bỏ lớp áo gian trá cộng sản!

Trước tình huống đang diễn ra và để ngăn chận cũng như đối phó với ý đồ gian trá cộng sản trên chính trường quốc tế, những cá nhân, tổ chức đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền hiện đang là công dân của các quốc gia dân chủ bằng mọi cách có thể, gián tiếp hay trực tiếp tham gia vào giòng chính chính trị của nước sở tại, tham gia vào các tổ chức quốc tế vạch trần, chỉ ra các dối trá của các thông tin, các tổng kết, các bản báo cáo... có nguồn gốc từ đảng cộng sản Việt Nam.

Tích cực tham gia vào giòng chính chính trị, vào các tổ chức quốc để có điều kiện ngăn chận cộng sản thực hiện hành động lừa gạt những con người trung thực được nuôi dưỡng trong môi trường giáo dục nhân bản và lớn lên trong xã hội yêu thương đầy tình người, không thể tưởng tượng, thấu hiểu nổi mưu mô xảo quyệt, dối trá đáng kinh tởm của cộng sản Việt Nam.

Vạch trần dối trá cộng sản trước cộng đồng quốc tế để thúc đẩy, để buộc Việt Cộng phải thực hiện các hứa hẹn, cam kết quốc tế về tự do, dân chủ, nhân quyền theo chuẩn mực, giá trị chung của xã hội loài người thời đương đại - để nhận được trợ giúp, viện trợ của quốc tế và nhận viện trợ không phải để đảng cộng sản kéo dài chế độ độc tài bạo trị trên đất nước Việt Nam.

Vạch trần dối trá trong các thông tin, các bản tổng kết, các bản báo cáo láo của cộng sản Việt Nam nhằm ngăn chận nguồn trợ giúp, viện trợ nhân đạo của các nước dân chủ văn minh, của các tổ chức quốc tế cho cộng sản Việt nam, cũngchính là một trong nhiều phương thức góp phần kết thúc chế độ bạo tàn cộng sản để xây dựng nhà nước dân chủ đích thực của dân, do dân, vì dân... Một nhà nước dân chủ thực sự - tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân như nhiều thế hệ lãnh đạo cộng sản hô hào trong gần suốt một thế kỷ qua!



5.8.14

Tù binh VC sau khi được VNCH trao trả dã bị ....




Tù binh Việt cộng bị VNCH giam giữ, sau khi được trao trả lại cho CS Hà Nội (FB LS Nguyễn Đức Minh) đã bị CS Hà Nội ra lệnh giết chết .

Thưa quý vị, trong những ngày qua, có một số các bạn nêu lên câu hỏi: Những tù binh được VNCH thả về lại với cộng sản, thì số phận của những người này như thế nào? 

Một chuyện mà quý vị không thể nào tin được
Thưa quý vị, trong những ngày qua, có một số các bạn nêu lên câu hỏi: Những tù binh được VNCH thả về lại với cộng sản, thì số phận của những người này như thế nào? Thật ra có rất ít tài liệu của cộng sản nói về số phận của những người này. Tôi từng đọc một số tài liệu, có nói rằng đa số đã trãi qua một tiến trình thanh lọc rất khắc nghiệt, và có một số được tham gia hoạt động trở lại. Tuy nhiên những người không qua được tiến trình tái thanh lọc, thì số phận họ sẽ như thế nào? Chưa có câu trả lời!
Nhưng, có một chuyện hôm nay xin được trình bày với quý vị có liên quan đến vấn đề tù binh bộ đội cộng sản. Sau khi được phép của nhân chứng sống, tôi xin trình bày câu chuyện như sau:
Một thanh niên miền Bắc đi bộ đội năm 1972, vào Nam chiến đấu năm 1973 và cuối năm 1974 thì cả đơn vị của anh này bị quân đội VNCH bắt sống. Anh cùng gần 140 tù binh cộng sản khác bị giam giữ chờ ngày trao trả tù binh. Theo lời của nhân chứng thì vào lúc đó bộ đội cộng sản cũng đang giam giữ một số binh sĩ VNCH và dự định sẽ trao trả với số tù binh cộng sản đang do VNCH giam giữ, trong đó có nhân chứng.
Tuy nhiên gần đến ngày trao trả phe cộng sản không biết vì lý do gì giết hết toàn bộ nhóm tù binh VNCH đang bị giam giữ. Tin này do tình báo của VNCH thu được do đó việc trao trã toán tù binh Việt cộng trong đó có nhân chứng được đình chỉ. Tình hình chiến sự vào lúc đó tại miền Nam hết sức thê thảm. 
Đúng vào ngày phi công Nguyễn Thành Trung dội bom dinh độc lập, toàn tù binh Việt cộng 140 người, trong đó có nhân chứng, được lệnh lên tàu hải quân của VNCH để trao trả cho Hà Nội. Chiếc tàu này ra khơi nhưng không mang số tù binh này trao trả mà chở thẳng qua Mã Lai. Những tù binh này được binh sĩ VNCH thông báo là họ được di tản theo yêu cầu của chính phủ Hoa kỳ vì lý do nhân đạo. 
Theo nhân chứng kể lại thì đa số tù binh Việt cộng bị VNCH giam giữ, khi được trao trả lại cho cộng sản Hà nội đều bị GIẾT SẠCH để loại trừ tình báo viên được gài vào, và để chận đứng mọi tin tức có liên quan đến chính sách nhân đạo với tù binh Việt Cộng của VNCH. Chính phủ Hoa kỳ biết rõ việc này cho nên đã ra lệnh yêu cầu ngưng trao trả tù binh Việt Cộng và yêu cầu di tản toán tù binh trên vì lý do nhân đạo.
Nhân chứng cho biết toán 140 tù binh Việt cộng đều là bộ đội miền Bắc và đa số đã chọn đi định cư tại Hoa kỳ, chỉ có nhân chứng là chọn định cư tại Malaysia và trở thành công dân của quốc gia này.
Năm 1985 nhân chứng về lại VN để thăm cha mẹ và làng xóm thì được biết là anh ta đã được phong liệt sĩ. Cả làng hết hồn khi thấy nhân chứng trở về. Tuy nhiên nhân chứng chỉ về làng chưa được một ngày thì phải lập tức biến mất và trở lại Malaysia ngay. Lý do: Nhân chứng khẳng định vào thời điểm cho đến năm 1985, nhưng bộ đội nào đã có giấy báo tử mà sau đó bất thình lình xuất hiện tại địa phương thì đều bị công an bắt đi biệt tăm biệt tích. Trong làng của nhân chứng cũng có một vài trường hợp có giấy báo tử, sau đó lại về, và bị bắt đi biệt tích kể từ ngày xuất hiện. Chỉ có thời gian gần đây mới có một vài trường hợp liệt sĩ trở về nhưng với lý do là bị thương mất trí, hay bị bệnh tâm thần không nhớ đường về quê…thì được chấp nhận. Trước đó đã có giấy báo tử mà bất thình lình trở về thì sẽ bị bắt đi đâu biệt tích luôn.
Nhân chứng khẳng định sau khi nhân chứng tìm cách quay lại Malaysia ngay thì tại VN có rất nhiều người bị bắt vì công an nghi họ chính là nhân chứng.
Đặc biệt nhân chứng cho biết chính quyền cộng sản vu cho nhân chứng là phản bội,theo giặc cho nên đã ra sức đàn áp gia đình, thân nhân, cha mẹ của nhân chứng tại địa phương đến nỗi nhiều người phải bỏ quê hương ra đi để tránh bị sách nhiễu. Cũng theo nhân chứng thì cha mẹ của nhân chứng đã bị chính quyền địa phương đầu độc chết nhưng buộc người nhà phải khai là chết vì bệnh tim.
Mục đích nhân chứng muốn kể câu chuyện này là muốn mọi người được biết có rất nhiều người đã bị chế độ giết oan, chỉ vì họ đã ở tù một thời gian ở miền Nam trong tay quân đội VNCH. Một số người khác bị báo tử quay về cũng có thể đã bị giết chết vì chế độ không muốn họ nói lên những sự thật ghê gớm trong chính sách thương binh liệt sĩ của chế độ cộng sản. Nhân chứng tin rằng đã đến lúc phải lật mặt nạ của chính quyền cộng sản tán tận, vô lương tâm, đã giết không chừa bất cứ ai mà chúng cảm thấy có thể lật mặt nạ hay đe dọa độc quyền thống trị của chúng, kẻ thù, đồng bào,đồng chí…chúng sẳn sàng giết để bịt mồm, bịt miệng.
Thưa quý vị được phép của nhân chứng, tôi xin quý vị hãy cũng xem video kèm theo do đài truyền hình Việt Nam thực hiện có liên quan đến bản thân nhân chứng. Trên đây là toàn bộ sự thật của câu chuyện do nhân chứng kể cho tôi nghe và nhân chứng cũng sẳn lòng cung cấp thêm những chi tiết khác nếu quý vị muốn.
Tôi hoàn toàn sốc vì câu chuyện này. Vì sự nhân đạo của quân đội VNCH và chính phủ Hoa kỳ, sốc vì sự tàn bạo không có gì có thể mô tả được của chính quyền cộng sản, và sốc vì không ngờ rằng có những người Việt Nam có những số phận hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta, những nạn nhân không có tiếng nói của cuộc chiến 20 năm do tập đoàn cộng sản Hà nội gây ra.
Xin chân thành giới thiệu cùng quý vị.
Ls Lê Đức Minh

4.8.14

Tin " không thể tin được "




TIN ĐỘNG TRỜI !!!

Ngày 19/6/2014 vừa qua, Tối Cao Pháp Viện Victoria/Melbourne Úc Đai Lợi đã bác bỏ không cho công bố bản báo cáo hình sự liên quan tới các tên chóp bu trong chính phủ CS Việt Nam đã nhận hối lộ như thế nào,trong đó có cả Nam Dương và Mã Lai vì sợ xâm phạm nền an ninh của nước này !

Riêng phiá VN có Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng,Lê Đức Thúy và Nông Đức Mạnh, đã toa rập cùng nhau ăn hối lộ như thế nào? Té ra nạn tham nhũng đã bòn rút hết tài sản quốc gia, khiến dân sống trong cảnh nghèo đói cùng cực Và nay dẫn đến mất nước về tay bọn Tàuchệt !!!Xin quý diễn đàn phổ biến cho bà con tỏ tường.
 
Tòa Án Úc : Nông Đức Mạnh, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng,Lê Đức Thúy tham nhũng tiền nhựa (Bản Anh và Việt)


Australia bans reporting of multi-nation corruption case involving Malaysia, Indonesia and Vietnam

Today, 29 July 2014, WikiLeaks releases an unprecedented Australian censorship order concerning a multi-million dollar corruption case explicitly naming the current and past heads of state of Indonesia, Malaysia and Vietnam, their relatives and other senior officials. The super-injunction invokes “national security” grounds to prevent reporting about the case, by anyone, in order to “prevent damage to Australia's international relations”. The court-issued gag order follows the secret 19 June 2014 indictment of seven senior executives from subsidiaries of Australia's central bank, the Reserve Bank of Australia (RBA). The case concerns allegations of multi-million dollar inducements made by agents of the RBA subsidiaries Securency and Note Printing Australia in order to secure contracts for the supply of Australian-style polymer bank notes to the governments of Malaysia, Indonesia, Vietnam and other countries.

Read the full press release here.

Download the full Australia-wide censorship order for corruption case involving Malaysia, Indonesia and Vietnam.

IN THE SUPREME COURT OF VICTORIA AT MELBOURNE CRIMINAL DIVISION

BETWEEN:

THE QUEEN
-and-
BARRY THOMAS BRADY & ORS

GENERAL FORM OF ORDER

JUDGE: The Honourable Justice Hollingworth
DATE MADE: 19 June 2014
ORIGINATING PROCESS: Indictment HOW OBTAINED: Oral application, following the giving of notice under s 10 of the Open Courts Act 2013 (Vic)
ATTENDANCE: Dr S Danaghue QC and Mr J Forsaith for the Commonwealth of Australia (instructed by the Department of Foreign Affairs and Trade)
Mr J Forsaith for the Commissioner of the Australian Federal Police
Mr N Robinson QC and Mr K Armstrong for the Commonwealth Director of Public Prosecutions
Mr M Cahill for Barry Thomas Brady
Mr C Mandy for Peter Sinclair Hutchinson
Mr C Thomson for John Leckenby
Mr P Tehan QC for Steven Kim Wong
Mr P Higham for Christian Boillot and Clifford John Gerathy
Ms M Fox for Myles Andrew Curtis 

THE COURT ORDERS THAT:

1. Subject to further order, there be no disclosure, by publication or otherwise, of any information (whether in electronic or paper form) derived from or prepared for the purposes of these proceedings (including the terms of these orders, and the affidavit of Gillian Elizabeth Bird affirmed on 12 June 2014) that reveals, implies, suggests or alleges that any person to whom this order applies:

o received or attempted to receive a bribe or improper payment;
o acquiesced in or was wilfully blind as to any person receiving or attempting to receive a bribe or improper payment; or
o was the intended or proposed recipient of a bribe or improper payment.

2. Subject to further order, order 1 applies to the following persons:

* any current or former Prime Minister of Malaysia (including refereces to 'PM');

*any current or former Deputy Prime Minister of Malaysia (including references to 'DPM');

* any current or former Finance Minister of Malaysia (including references to 'FM');

* Mohammad Najib Abdul Razak, currently Prime Minister (since 2009) and Finance Minister (since 2008) of Malaysia;

* Abdullah Ahmad Badawi (also known as Pak Lah), a former Prime Minister (2003 - 2009) and Finance Minister (2003 - 2008) of Malaysia; o Puan Noni (also knows as Ms/Madame Noni, or Nonni), a sister-in-law of Abdullah Ahmad Badawi;

* Mahathir Mohamed, a former Prime Minister (1981 - 2003) and Finance Minister (2001 - 2003) of Malaysia;

o Daim Zainuddin, a former Finance Minister of Malaysia (1984 - 1991; 1999 - 2001);

* Rafidah Aziz, a former Trade Minister of Malaysia (1987 - 2008);

* Hamid Albar, a former Minister for Foreign Affairs (1999 - 2008) 

and Minister of Home Affairs (2008 - 2009) of Malaysia;

* Susilo Bambang Yudhoyono (also known as SBY), currently President of Indonesia (since 2004);

* Megawati Sukarnoputri (also known as Mega), a former President of Indonesia (2001 - 2004) and current leader of the PDI-P political party;

* Laksamana Sukardi, a former Indonesian minister (2001 - 2004; in Megawati Sukarnoputri's goverment);

* Truong Tan San, currently President of Vietnam (since 2011);
* Nguyen Tan Dung, currently Prime Minister of Vietnam (since 2006);
*Le Duc Thuy, a Former Chairman of the National Financial Supervisory Committee (2007 - 2011) and a former Governor of the State Bank of Vietnam (1999 - 2007); and
* Nong Duc Manh, a former General Secretary of the Communist Party of Vietnam (2001 - 2011).


3. Subject to further order, order 1 does not prevent: o disclosures to and among Commonwealth officers (as defined by s 3 of Crimes Act 1914 (Cth)) or international investigators, international prosecuting authorities, and other like international entities;

* provision by the Court to registered media organisations, under cover of a notice referring to the existence of these orders, of transcript and exhibits (which, for the avoidance of doubt, must then be treated in accordance with order 1 above);

* provision of material by the Commonwealth Director of Public Prosecutions to Note Printing Australia Pty Ltd and its legal representatives, provided any such material is provided together with a copy of these orders.

4. The prohibition on publication in order 1 applies throughout Australia.
5. The purpose of these orders is to prevent damage to Australia's international relations that may be caused by the publication of material that may damage the reputations of specified individuals who are not the subject of charges in these proceedings.

6. These orders are made on the grounds that they are:

* necessary to prevent a real and substantial risk of prejudice to the proper administration of justice that cannot be prevented by other reasonably available means; and

* necessary to prevent prejudice to the interests of the Commonwealth in relation to national security.

7. These orders operate for a period of 5 years from the date of these orders, unless sooner revoked.

8. The affidavit of Gillian Elizabeth Bird affirmed on 12 June 2014 be sealed in an envelope marked "Not to be opened without an order of the Court", and not be opened without order of the Court.

9. There be liberty to apply.

DATE AUTHENTICATED: 19 June 2014



===============
Bản Việt ngữ tạm dịch:

TỐI CAO PHÁP VIỆN VICTORIA tại MELBOURNE PHÂN BỘ HÌNH SỰ 

S CR 2013: 0173, 0174, 0175, 0215 
S CR năm 2014: 0047, 0048, 0049, 0058, 0079, 0080 

GIỮA: 

THE QUEEN 

-và-

BARRY THOMAS BRADY & ORS

SẮC ḶÊNH TỔNG QUÁT

THẨM PHÁN: Ngài Hollingworth 
NGÀY THỰC HIỆN: Tháng 6 19, 2014 
TRÌNH TỰ GỐC: Cáo trạng 
CÁCH LẤY: Lời khai, chiếu theo Đạo Luật 10 Về Tòa Án Mở năm 2013 (Vic) 
THAM GIA: Dr S Danaghue QC và Mr J Forsaith đaị diện Khối thịnh vượng chung Úc (theo chỉ dẫn của Bộ Ngoại giao và Thương mại) Ông J Forsaith đại diện Ủy viên Cảnh Sát Liên Bang Úc 
Ông N Robinson QC và ông K Armstrong đaị diện Giám đốc Các Công Tố của Khối thịnh vượng Chung Úc
Ông M Cahill cho Barry Thomas Brady 
Ông C Mandy cho Peter Sinclair Hutchinson 
Ông C Thomson cho John Leckenby 
Ông P Tehan QC cho Steven Kim Wong 
Ông P Higham cho Christian Boillot và Clifford John Gerathy 
Bà M Fox cho Myles Curtis Andrew 

TOÀ LỆNH RẰNG: 

1. Chiếu theo lệnh sau, không được tiết lộ, bằng cách công bố hoặc cách khác, bất kỳ thông tin (dù dưới dạng điện tử hoặc giấy in) xuất phát từ hoặc chuẩn bị cho các mục đích của thủ tục tố tụng (bao gồm cả các điều khoản của ḷênh này, và bản khai của Gillian Elizabeth Bird đã khẳng định ngày 12 tháng sáu năm 2014) mà tiết lộ̣, ngụ ý, ám chỉ, hoặc cáo buộc rằng bất kỳ người nào mà lệnh này được áp dụng: 

(a) nhận hoặc cố gắng để nhận hối lộ hoặc các khoản thanh toán sai trái; 

(b) ngầm thuận hoặc cố tình làm ngơ về việc người nào đó nhận hoặc cố gắng để nhận hối lộ hoặc các thanh toán sai trái; hoặc 

l (c) là người nhận hoặc được đề nghị nḥân hối lộ hoặc các thanh toán sai trái. 

2. Chiếu theo ḷênh sau, khoản 1 áp dụng đối với những cá nhân sau: 

- bất cứ đương kim hoặc cựu Thủ tướng của Malaysia (bao gồm cả việc đề cập đến 'PM'); 

- bất cứ đương kim hoặc cựu Phó Thủ tướng Malaysia (bao gồm cả việc đề cập đến 'DPM'); 

- bất cứ đương kim hoặc cựu Bộ trưởng Tài chính Malaysia (bao gồm cả việc đề cập đến 'FM'); 

- Mohammad Najib Abdul Razak, đương kim Thủ tướng Chính phủ (từ năm 2009) và Bộ trưởng Tài chính (từ năm 2008) của Malaysia; 

- Abdullah Ahmad Badawi (còn được gọi là Pak Lah), cựu Thủ tướng (2003-2009) và Bộ trưởng Tài chính (2003 - 2008) của Malaysia; 

- Puan Noni (cũng là bà/Madame Noni, hoặc Nonni), một người em dâu của Abdullah Ahmad Badawi; 

- Mahathir Mohamed, cựu thủ tướng (1981 - 2003) và Bộ trưởng Tài chính (2001 - 2003) của Malaysia; 

- Daim Zainuddin, cựu Bộ trưởng Tài chính Malaysia (1984 - 1991; 1999 - 2001); 

- Rafidah Aziz, cựu Bộ trưởng Thương mại Malaysia (1987 - 2008); 

- Hamid Albar, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1999 - 2008) và Bộ trưởng Bộ Nội vụ (2008 - 2009) của Malaysia; 

- Susilo Bambang Yudhoyono (còn gọi là SBY), đương kim Tổng thống Indonesia (từ năm 2004); 

- Megawati Sukarnoputri (còn được gọi là Mega), cựu tổng thống Indonesia (2001 - 2004) và nhà lãnh đạo hiện tại của đảng chính trị PDI-P; 

- Laksamana Sukardi, một cựu bộ trưởng Indonesia (2001 - 2004; trong chính phủ Megawati Sukarnoputri của); 

- Trương Tấn San, Chủ tịch Nước hiện nay của Việt Nam (từ năm 2011); 

- Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ hiện nay của Việt Nam (từ năm 2006); 

- Lê Đức Thúy, cựu Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (2007 - 2011) và là cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1999 - 2007); và 

- Nông Đức Mạnh, nguyên Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam (2001 - 2011). 

3. Chiếu theo lệnh sau, khoản 1 không ngăn cản:

(a) Tiết lộ cho và giữa các viên chức của Khối Thịnh vượng Chung Úc (theo quy định của Phần 3 Đạo luật về Tội phạm 1914 (Cth)) hay các nhà điều tra quốc tế, cơ quan truy tố quốc tế, và các tổ chức quốc tế tương tự; 

(b) Toà cung cấp cho các tổ chức truyền thông chính danh, qua sự che chắn của một thông báo đề cập đến sự hiện hữu của các lệnh toà, bản văn, tang vật (trong đó, để tránh sự nghi ngờ, phải tuân thủ Lệnh 1 ở trên; 

(c) Cung cấp các tài liệu của Giám đốc Các Công Tố của Khối Thịnh Vượng Chung Úc cho Công ty Note Printing Australia Pty Ltd và đại diện pháp lý, miễn là bất kỳ tài liệu nào được cung cấp phải kèm theo các lệnh này. 

4.Việc cấm công bố theo khoản 1 áp dụng trên toàn nước Úc. 

5. Mục đích của lệnh tòa là để ngăn chặn thiệt hại cho quan hệ quốc tế của Úc có thể bị gây ra bởi việc công bố các tài liệu có thể làm hại tiếng tăm của cá nhân được đề cập mà không phải là đối tượng của cáo buôc trong các thủ tục tố tụng. 

6. Các lệnh toà được thực hiện trên nền tảng là: 

(a) Cần thiết để ngăn chặn một nguy cơ thiên kiến ảnh hưởng thực sự và đáng kể đến việc thực thi công lý mà không thể được ngăn ngừa bằng các phương tiện hợp lý khác; và 

(b) Cần thiết để ngăn chặn ảnh hưởng đến lợi ích của Khối Thịnh vượng Chung liên quan đến an ninh quốc gia. 

7. Các lệnh này có hiệu lực trong thời hạn 5 năm kể từ ngày chứng, trừ khi bị thu hồi sớm hơn. 

8. Bản khai của Gillian Bird Elizabeth được khẳng định vào ngày 12 tháng sáu năm 2014 phải được niêm phong trong một phong bì có ghi "Không được mở mà không có ḷênh của Tòa án", và không được mở mà không có lệnh của Toà án. 

9. Tùy nghi áp dụng.
 
__._,_.___

Dân Việt Nam ta tính sao đây????




Ai là tác giả đích thực của đề nghị bán nước của CSVN ở Thành Đô 1990?



Cái kim lòi ra, cục phân bốc mùi, khối u độc di căn

Mấy hôm nay lề dân sôi sục lên với những bài tin về nội dung thỏa thuận được cho là bán nước Việt cho Tàu ở Hội nghị Thành Đô của đảng CSVN với CSTQ năm 1990, mà Tân Hoa xã, Hoàn Cầu Thời báo, Wikileaks… vừa đưa ra, vì có câu: “Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….”

Nếu thế thì đúng là bán nước 100% rồi còn gì, lịch sử Dân tộc VN mấy nghìn năm chưa bao giờ có chính quyền nào hèn hạ và dám làm việc ô nhục sau lưng dân như thế!

Tất nhiên là đảng im lặng hoàn toàn. Chính cái thỏa thuận Thành Đô đảng CSVN ký với CSTQ đã 24 năm nay mà họ vẫn đang còn cố giấu diếm như mèo giấu cứt, dù nó đang bốc mùi lộ chất độc thối rồi, nên chưa biết họ sẽ “liếm láp” tiếp ra sao?

Chẳng ngạc nhiên và cũng thật đáng mừng khi còn có những người dân Việt như thiếu tướng Lê Duy Mật với tư cách đảng viên đã yêu cầu đảng của mình công bố chính thức nội dung Thỏa thuận Thành Đô đó… Nếu tướng Mật đã đưa yêu cầu của mình theo đúng thủ tục “góp ý nội bộ” thì sẽ có hai khả năng: đảng sẽ lờ tịt đi hay sẽ… khai trừ ông ra khỏi đảng. Nay yêu cầu của ông đã được công khai trên lề dân –tức “không theo đúng qui trình”, thì khả năng sau cao hơn, cũng như đảng mới khai trừ ông Ls. Trừng vậy. Nhưng câu chuyện sẽ không thể kết ở đó. Tất cả mới bắt đầu…

Với bài này, tôi muốn nói đến phần trước nữa, phần bắt nguồn, của Hội nghị Thành Đô 1990 của CSVN, và cố gắng thử trả lời câu hỏi như đầu bài đưa ra (tất nhiên, đó là nhóm chóp bu đảng CSVN rồi, nhưng bắt đầu từ ai?), hòng góp phần dự đoán “câu chuyện bán nước ở Thành Đô” của đảng CSVN sẽ tiếp diễn như thế nào?... Chứ chả lẽ dân Việt ta chỉ biết ngồi chờ “đảng ta dẫn dắt và lãnh đạo”, đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác mãi?!

Bối cảnh, hay điều gì dẫn đến Hội nghị Thành Đô?

Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè…

Câu nói đó thể hiện văn hóa cao đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ! 

Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác cho những hành động cơ hội luồn cúi bán dân hại nước của mình!

Thực chất chuyện gì đã xảy ra? Đã có ba chuyện chính lớn xảy ra.

Đến năm 1989 thì bức tường Berlin sụp đổ cùng hàng loạt các nước cộng sản tự gọi là XHCN ở Đông Âu và liên bang Xô viết tan rã - chiến tranh lạnh kết thúc với bên thua không có người để giương cờ trắng là bên cộng sản. Trong khi đó, Cộng sản VN đang dựa vào cộng sản Liên xô, nên chới với…

Sự kiện thứ hai là ở Thiên An Môn tháng 6/1988 ở Bắc Kinh, cũng trước một phong trào đấu tranh dân chủ của sinh viên như đã bắt đầu ở Đông Âu trước đó mà kết thúc là bức tường Berlin bị đập tan theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, chính quyền cộng sản Bắc Kinh với lệnh từ Đặng Tiểu Bình, đã dùng súng và xe tăng bắn và nghiền nát hàng ngàn sinh viên đấu tranh tay không trên quảng trường đỏ ấy làm nó thực sự đỏ vì máu và thịt của những người Trung Hoa trẻ dũng cảm vô song đó…

Sự kiện thứ ba là tình trạng khốn cùng của dân ở Việt Nam. 15 năm sau “chiến thắng vẻ vang”, đã nắm trong tay toàn đất nước, chính quyền cộng sản Việt nam đã hoàn toàn thấy bại trong công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình, đưa kinh tế đất nước đến đáy bùn nghèo khốn tận cùng, đảng hèn kém tham nhũng và vô đạo đức đã mất hết uy tín trước dân và cả các đảng viên chân chính. Đảng CSVN lúc đó lại chống Tàu (vì Tàu đánh chiếm biên giới VN năm 1979) và dựa vào đảng CSLX đã tan rã, thì có nguy cơ cũng sẽ tan rã như thế…

Thế là, đảng CSVN chọn đổi chủ, chọn đi theo chủ mới đang chính là kẻ thù số 1 của dân tộc mình, là đảng CSTQ. Thế là họ xin đến TQ, xin có Hội nghị Thành Đô để qui hàng để có thể tiếp tục giữ thể chế cộng sản của mình ở VN, bằng bạo lực Tàu như họ đã thể hiện trên Thiên An Môn. Nhưng mức độ thần phục TQ đến thế nào, tức nội dung cụ thể của thỏa thuận ở Thành Đô năm 1990 đó là gì, đảng CSVN đến nay vẫn chưa dám công bố cho đảng viên của mình biết.

Nhưng lý do và mục đích của Hội nghị đó thì ai cũng rõ: vì đảng sợ nhân dân Việt Nam khai tử, như nhân dân các nước khác đã khai tử các đảng CS ở Đông Âu và cả Liên xô, vì lợi ích –vì sự thịnh vượng của các dân tộc đó.

Với Hội nghị Thành Đô, đảng CSVN đã đặt lợi ích của đảng trên lợi ích dân tộc Việt Nam. Nhưng đến bán cả quốc gia cho TQ, như nội dung thỏa thuận đã hé lộ ra như trên, thì quả là CSVN đã đi quá xa, và dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận, không bao giờ tha thứ!

Ai trong đảng CSVN đã đi bán nước ở Thành Đô 1990

Chúng ta biết, đoàn cán bộ chóp bu của CSVN bí mật đi TQ khi đó bao gồm: Cố vấn Phạm Văn Đồng, TBT Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT (Thủ tướng) Đỗ Mười và một số ít phụ tá. Ngay cái cách họ lén lút ra đi đúng ngày Quốc khách VN 2/9/1990 đã thể hiện mục tiêu đen tối, mưu đồ không trong sáng và tâm địa hèn hạ của họ rồi.

Nhưng vai trò cá nhân của ba nhân vật chóp bu trên của CSVN lúc đó trong thỏa thuận Thành Đô như thế nào, đó là câu hỏi của chúng ta ở đây.

Đồng, kẻ đã bán nước bằng công hàm 1958 lại có mặt trong đoàn đi bán nước lần này, thật không bất ngờ nhưng càng đáng nghi là một tác giả chính của nó, và không thể tha thứ! Đồng khi đó đã 84 tuổi, đã nghỉ hưu từ 1987, chỉ còn chức cố vấn hờ cho TBT Linh từ 1986, tại sao lại phải có mặt ở Thành Đô là câu hỏi then chốt?

Linh, kẻ mới bất ngờ lên TBT t12 năm 1986 tại ĐH VI, đã để lại ấn tượng khá tốt trong những cải tổ bắt buộc ban đầu, gọi là đổi mới, của CSVN, tại sao đã quay ngoắt thái độ từ cấp tiến đổi mới sang bảo thủ theo Tàu, là câu hỏi rất quan trọng cần trả lời?

Và Mười, tên hoạn lợn vốn đã bị thần kinh, chỉ biết ăn tục nói phét mà được Hồ cho làm phó TTg của Đồng, nay lên được TTg cũng là ngạc nhiên lớn (câu hỏi sẽ được trả lời ở phần sau), có vai trò gì trong gánh xiếc bán nước này, cũng là câu hỏi hóc búa không thể bỏ qua để hiểu vở diễn này của CSVN? Chúng ta để ý là ngay trước Thành đô tên hoạn lơn này được bất ngờ lên Thủ tuongs để đại diện chính phủ ký thỏa thuận bán nước, rồi sau khi từ Thành Đô về, kẻ điên thiến lợn này còn được lên chức TBT thay Linh để triển khai thực hiện cam kết Thành Đô đó với Tàu cộng từ 1991 – ĐH-VII của CSVN và tái nhiệm cả ở ĐH -VIII?

Vậy trong ba người đó, ai hay cả ba, hay ai khác nữa là tác giả đích thực của thỏa thuận bán nước Thành Đô? 

Ai là tác giả đích thực của đề nghị bán nước ở Thành Đô?

Chúng ta hãy bắt đầu nhìn lại từ sự nghiệp đỉnh cao của Linh - TBT. Tại sao Linh bất ngờ được lên TBT vào t12/1986 ở ĐH-VI? Đó là do t6/1986 Lê Duẩn chết, Trường Chinh được lên TBT lần 2 tạm thay Duẩn từ t6 đến ĐH6 t12/1986, rồi Chinh chọn Linh lên thay mình. Vậy tại sao Chinh lại chọn Linh từ trong Nam ra trong khi có nhiều ứng cử viên nặng ký hơn nhiều và gần gũi Chinh hơn? Có phải vì Linh đã cam kết sẽ làm cuộc đổi mới theo con đường Chinh vẽ ra? Mà chúng ta dã biết, Chinh là một trong bộ tứ Hồ-Đồng-Chinh-Giáp khét tiếng chỉ theo Tàu từ đầu đến cuối, và đổi mới của Chinh là CSVN quay lại theo TQ hoàn toàn? 

Từ 1975 đến 1986 CSVN do Duẩn thống trị đã hoàn toàn chống Tàu cộng, ghi cả trong hiến pháp tầu là kẻ thù só 1, nên khi Duẩn chết là lúc phe thân Tầu của Đồng-Chinh-Giáp vốn bị Duẩn “đì” nhưng đều còn sống (dù đã rất già và đã về hưu), nhưng đằng sau là Tàu cộng và Hoa Nam, có cơ hội phục thù và lên nắm lại quyền bính như thời Hồ, để lái VN theo Trung cộng lại hoàn toàn như Hồ mong muốn? Vậy cho nên, khi Chinh tạm giữ chức TBT, việc quan trọng nhất của Chinh là phải tìm ra nhân vật mới làm TBT sẽ theo phe thân Tàu của Chinh-Đồng-Giáp, đồng ý đưa VN quay về Tàu? Và đó chính là Linh (mà Hoa Nam tìm ra) – kẻ thật thà dễ bảo, không gian trá, không thủ đoạn, rất ngây thơ và ảo tưởng?

Đó là lý do Linh bất ngờ vượt qua nhiều ứng viên nặng ký hơn nhiều, lên chức TBT đảng CSVN t12/1986 ở ĐH-VI? Và vì thế trong hơn nửa đầu nhiệm kỳ 1986-1991 của mình Linh đã khởi xướng đổi mới (thực ra là học theo Đặng chút it) và cởi trói cho văn nghệ sĩ chút đỉnh, để gây thanh thế, tạo uy tín, để lừa lấy lòng quần chúng nhân dân, song sang cuối nhiệm kỳ Linh lại “trói lại” và cương quyết “bảo vệ thành trì XHCN còn sót lại là TQ và VN” (ảo tưởng). Đó là lý do Linh đã chấp thuận bán nước ở Thành Đô cùng Đồng và Mười – để cứu phe XHCN cho nhân loại? 

Như vậy, thỏa thuận Thành Đô là theo đạo diễn của Trường Chinh, rồi giám sát của Đồng, mà Linh chỉ là kẻ đổ bô ảo tưởng rằng mình thực cứu cả phe XHCN? Và vì thế Linh đã hối hận (quá muộn) khi năm 1991 xin rút khỏi vũ đài chính trị VN (dù Linh dễ dàng có thể tái nhiệm chức TBT khóa VII 1991 sau “đại công tích” bán nước ở Thành Đô 1990?)

Tiếp theo là Đồng, năm 1990 Đồng đã về hưu 3 năm rồi, sao còn phải tháp tùng Linh đi Tàu, dù với chức danh cố vấn? Đó phải chăng là vì Đồng được bộ ba Động-Chinh-Giáp giao giám sát thực hiện ký kết thỏa thuận bán nước Thành Đô (mà Bắc Kinh giao bộ ba đệ tử Hồ đã lọm khộm đó phải làm cho xong trước khi chết?), hoàn tất sự nghiệp cướp/bán nước của Hồ và bộ ba đó? Hơn nữa, sau khi lừa được Linh làm TBT bán nước năm 1986, Chinh đã chết năm 1988, nên chỉ còn Đồng và Giáp trong bộ ba đã bán linh hồn cho Hồ/Tàu ngay từ 1940, thì Giáp lúc đó uy tín và chức vụ đã rơi quá thấp (mới vừa phụ trách sinh đẻ kế hoạch 1983), nên Đồng dù đã thân già vô sự vẫn cứ phải nhiễu sự theo Linh về chầu. Vì đó là việc quá quan trọng – hoàn tất sự nghiệp cướp nước Việt của Tàu/Hồ - mà nhất định Bắc Kinh/Hoa Nam không thể để Linh tự diễn không có thúc ép và giám sát của Đồng (cũng là để Bắc Kinh còn qua Đồng mà chỉ đạo nội dung thỏa thuận)… Chả thế mà cả đảng CSVN khi đó, trước và sau Thành Đô, đều “châu ống đu đủ” để thổi Linh lên thành “lãnh tụ cứu tinh” cho VN và cả phe XHCN…

Và cuối cùng là tên hoạn heo chưa bao giờ đi học tử tế nhưng đã “Đỗ” Mười. Mười là kẻ rất ngu dốt nhưng vô cùng háo danh, hãnh tiến, và thủ đoạn độc ác luôn có thừa, được Hồ cho lên phó TTg từ 1968 mà đến 1988 vẫn chỉ chỉ là phó TTg (vì Đồng không cách chức ai trong 32 năm). Chúng ta nhớ, năm 1986 phe Đồng-Chinh-Giáp thân Tàu của Hồ nắm hai chức vụ chính là TBT (Chinh) và TTg (Đồng) nhưng ở ĐH VI t12/1986 đã chỉ giữ được chức TBT cho người của mình là Linh, còn chức TTg phải giao cho phái cấp tiến (của những người miền Nam) là Phạm Hùng. Nhưng t3 năm 1988 Phạm Hùng chết rất bất ngờ khi công tác tại Sài gòn (nghi vấn là do bị Hoa Nam sát hại), nhưng lẽ ra người lên thay phải là phó TTg Võ Văn Kiệt cùng phe Phạm Hùng, thì Mười bất ngờ được chọn (bởi Hoa Nam, kẻ đã giết TTg Phạm Hùng là cho mục đích đó?). Tại sao Hoa Nam chọn Mười? Chỉ vì Mười rất ngu nhưng quá háo danh/háo chức nên dễ điều khiển, có thể mua chuộc nếu cho danh/chức? Thế là kẻ hoạn lợn điên (lợn không bị điên) được Bắc Kinh đặt lên chức Thủ tướng (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng – vẫn theo cách tổ chức chính phủ của Liên xô/Duẩn cũ) từ 1988 là để chuẩn bị thay mặt chính phủ Việt Nam đi bán nước ở Thành Đô? Một lựa chọn hầu như tối ưu của Hoa Nam, tôi nghĩ thế. Kẻ như vậy cho làm TTg VN để hắn bán TQ cho Mỹ hay ngược lại, hắn cũng cam kết sẽ làm…

Tóm lại, tác giả đích thực của thỏa thuận bán nước ở Thành Đô, từ cách chọn và chuẩn bị nhân sự đứng đầu của CSVN mấy năm trước đó đến cách đi Thành Đô và ký kết, chính là… Hoa Nam hay đảng CSTQ, qua Chinh và Đồng (có thể Chinh/Đồng/Giáp cũng được tham gia góp ý cách thực hiện, nhưng không phải tác giả hay đồng tác giả), đến Linh và Mười chỉ là hai kẻ ký kết đổ bô mà thôi (dù họ có đổ bô vì cái gì). Chúng ta thấy rõ ràng bóng đen của Hồ trong “cái bô” Thành Đô đó… Chính vì thế mà đến nay hết đời TBT Mười, đến Phiêu, đến Mạnh, rồi đến Trọng… tất cả đều cung cúc tuân thủ và thực hiện thỏa thuận bán nước ở Thành Đô như chúng đang đội trên đầu cái chúng gọi là “Tư tưởng đạo đức Hồ” và “4 tốt 16 vàng” Tàu vậy…

Thế là sự nghiệp cướp nước Việt cho Tàu của Hồ được đàn em hoàn tất về thủ tục…

Hội nghị Thành Đô 1990 bản chất nó là thế. Tôi không cần phải nói cụ thể cái gọi là Hội nghị Thành Đô đó đã diễn ra như thế nào nữa, các bạn đã biết hay có thể biết chi tiết dễ dàng. Rồi Lịch sử dân tộc ta sẽ còn phải phán xét nó dài dài chứ không chỉ hôm nay chúng ta đang muốn biết rõ nó, phản đối nó, phẫn nộ vì nó…thôi đâu.

Nó là sự kiện nhục nhã nhất Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam ta, vô tiền khoán hậu! Vì chưa bao giờ vua quan Việt Nam kéo nhau trốn dân đi bán nước bằng cả đoàn đại diện đứng đầu đảng cầm quyền mấy triệu người và đứng đầu chính phủ đương nhiệm như thế cả! Cả mấy nghìn năm chỉ lác đác có vài kẻ bán nước như Trần Ích tắc, Lê Chiêu Thống…- đếm chưa hết ngón tay trên một bàn tay, và họ muốn bán nước nhân danh cá nhân họ thôi, nhưng không thành…

Điều đáng buồn và đau xót hơn nữa, là sau khi ký thỏa thuận bán nước đó, bọn bán nước vẫn ngấm ngầm thực hiện cam kết bán nước đó suốt 24 năm qua mà dân không biết, vì đảng CSVN không cần/thèm/phải công bố ra cho dân – những kẻ đã bị chúng bán đứng – biết! Có lẽ chúng tính để những kẻ “mua được” dân và nước Việt sẽ thông báo cho dân Việt luôn về “thương vụ” cho tiện! Chúng còn đang lo chước thứ 36: Tẩu! Vì đằng nào thì dân Việt cũng sẽ do bọn người khác ở Bắc Kinh “lãnh đạo” rồi! Và sự thể đã diễn ra đúng như thế, dân Việt được biết nước mình đã được bán cho Tàu cộng từ Tân Hoa xã và Thời báo Hoàn Cầu ở Bắc Kinh, và từ thế giới ảo - Wikileaks…

Và những kẻ thực hiện cam kết bán nước Thành Đô

Ký xong Hiệp định bán nước cho Tàu cộng ngày 4/9/1990 ở Thành Đô về, Linh không ra ứng cử TBT tiếp vì hối hận (là do tôi suy diễn thế thôi), và Linh đã hối hận suốt 8 năm sau trước khi chết hay không và thế nào thì chỉ có mà…Linh biết. Nhưng việc Linh không muốn làm TBT nữa đã tạo cơ hội cho kẻ thiến heo t6 năm 1991 leo lên “tột đỉnh danh vọng đảng” mà trước đó nếu có phải tự thiến chính mình chắc chắn lão cũng đồng ý làm để được thế. Câu hỏi là tại sao kẻ thiến heo đó may mắn được Hoa Nam chọn?

Câu trả lời khá đơn giản. Là vì Bắc Kinh phải cần những kẻ thực “ngu trung” nhất để thực hiện cam kết bán nước ở Thành Đô đó. Bắc Kinh/Hoa Nam vẫn biết “trung” với CSVN là không thể có, vì CSVN đã bán nước VN cho chúng/Tàu cộng tức CSVN không trung với cả đất nước và dân tộc Việt, thì ai ngu gì mà tin chúng nó/CSVN có thể trung với mình hay với bất kỳ ai. Khái niệm trung thành có lẽ không tồn tại với CSVN. Nhưng ngu thì chúng nhiều kẻ có thừa và Mười là kẻ có thừa nhiều nhất, nên để Mười làm TBT là tốt nhất cho Tàu. Vì còn ai sẽ tích cực thực hiện cam kết bán nước đó hơn kẻ hoạn lợn “rất tự hào đã được ký nó” nữa chứ?

Nhưng nước Việt có mấy ai ngu được cỡ như Mười, nên từ sau Mười, ngoài tiêu chuẩn “ngu không cần trung”, tiêu chuẩn và điều kiện để được Bắc Kinh bổ nhiệm làm TBT đảng CSVN và TTg VN là phải sang Bắc Kinh học thuộc cam kết Thành Đô 1990 và cam kết thực hiện nó trước mặt những kẻ cướp nước ở Bắc Kinh đó, rồi mới được về lên chức và phải thực hiện cam kết.

Đến nay thì danh sách các chức vụ của CSVN phải sang Bắc Kinh khấu đầu cam kết bán nước trước đã mở rộng ra cho cả Bộ CT rồi (đến tên Nhân và mụ Ngân ngay sau khi được bổ sung vào BCT cũng phải sang Bắc triều cam kết thực hiện hiệp ước bán nước đó ngay rồi mới về nhận chức vụ mới). Còn gần hai trăm ủy viên TƯ đảng CSVN thì đều phải qua “đào tạo đặc biệt” bên Tàu và cam kết bán nước cho Tàu có ký kết…

Rồi chúng triển hai cam kết bán nước đó trá hình trong dạng thực hiện phương châm 4 tốt, 16 chữ vàng đã suốt một phần tư thế kỷ nay, qua ĐH-VII 1991 đến ĐH-XI 2011, và sáp tới là ĐH-XII 2016…

Thời hạn chót cho CSVN thực hiện xong cam kết bán nước, biến VN thành tỉnh tự trị của Tàu trong vòng 30 năm đã tới gần, đến 2020, chỉ còn một đợt “bàn và giao nhiệm vụ” bán nước của đảng ở ĐH-XII 2016 nữa thôi…

Vài điều dự kết, hay: dân Việt ta tính sao đây?

Thế là nó là thế rồi! Thế là chúng bán nước rồi ! Dân Việt ta biết tính sao đây !?

Ai có thể sửa chữa, thay đổi, khắc phục hậu quả của thỏa thuận bán nước Thành Đô? Đó là nhân dân Việt Nam, và chỉ có thể là nhân dân Việt Nam. 

Tất nhiên, cụ thể về tổ chức, đó không thể là đảng CSVN hay tổ chức nào tương tự nó, con cháu nó, cánh tay nối dài hay hình bóng “ve sầu” của nó. Về cá nhân, đó không thể là những người đã từng tham gia tạo nên nó hay chấp nhận nó, giấu diếm nó, thực thi nó, đồng lõa với nó… vì bất cứ lý do gì – tức là tất cả bè lũ chóp bu của đảng CSVN từ 1990 đến nay, rồi tất cả bè lũ đảng viến cấp cao, cấp trung, cấp thấp đã và đang giấu diếm và thực thi thỏa thuận bán nước đó ở mọi lĩnh vực của xã hội Việt Nam hôm nay.

Vì thế, đã nhiều lần tôi nói, chúng ta không thể hy vọng gì vào các lãnh đạo hay đảng viên CSVN “phản tỉnh” nếu họ còn bảo vệ đảng, bảo vê “Bác” – tức là còn bảo vệ Thỏa thuận Thành Đô hay công hàm PVĐ 1958. Nếu có, thì chúng ta có thể, chỉ có thể thôi, tin tưởng và hy vọng vào những cán bộ đảng viên cấp trung đến cấp thấp, như thiếu tương Lê Duy Mật, vì họ không dính vào không tham gia thực hiện những chủ trương bán nước của đảng như Thành Đô hay công hàm PVĐ, và vì họ nay không bảo vệ đảng và Bác “nữa” mà chỉ vì dân tộc trên hết – cái đặc tính thứ hai này mới là quyết định.

Sửa chữa hay vượt qua thỏa thuận bán nước ở Thành Đô của CSVN như thế nào? Câu hỏi này thực là quá sức trả lời của tôi, dù là một cá nhân phản đối nó và sẽ không bao giờ thực hiện nó.

Nó là câu hỏi lớn và vô cùng khó của cả dân tộc Việt Nam hôm nay, đầu thế kỷ 21 này, lớn và khó hơn cả việc vượt qua công hàm bán nước PVĐ. 

Trả lời nó là chúng ta phải quyết định đi liền hành động, với tư cách cả một dân tộc, chọn đi theo con đường nô lệ Bắc Kinh hay đi lên con đường Tự do dân chủ như đại đa số (trên 80%) các nước trên Thế giói này đang đi lên, mà dẫn đầu là các cường quốc như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Canada, Úc… và hàng trăm quốc gia khác đều thịnh vượng hơn Việt Nam nhiều nữa.

Câu trả lời là của cả các bạn, cả của tôi, là của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng nhất định dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua nó để giữ gìn độc lập tự do của đất nước, như cha ông, Tổ tiên chúng ta đã làm bất lực các thỏa thuận bán nước của Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống ngày xưa!

Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, hay cùng nhau đứng lên nói “Không! Không bao giờ!” với thỏa thuận bán nước ở Thành Đô 1990 của CSVN, Việt Nam ơi!


__._,_.___


3.8.14

Giai cấp Vô Sản và lời hứa suông của Đảng



 01/08/14 | Tác giả: 

Giai cấp Vô Sản và lời hứa suông của Đảng

Đảng kêu gọi giai cấp vô sản cướp chính quyền
Đảng kêu gọi giai cấp vô sản cướp chính quyền
Các bản Hiến Pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay đều đề cập đến vai trò chính yếu của đảng Cộng Sản là đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động.Khởi thủy của họ là làm cách mạng vô sản, có nghĩa là giải phóng giai cấp và đấu tranh cho quyền lợi của người nghèo.Một đảng phái thì bao giờ cũng đại diện cho một tầng lớp nhất định,và phải trung thành với cương lĩnh đó.Vậy thì Đảng Cộng Sản đại diện cho giai cấp vô sản. Có lẽ điều này đã quá rõ ràng, không cần phải bàn cãi thêm nữa. Nhưng họ có thực sự đấu tranh và bảo vệ cho giai cấp vô sản hay không lại là một chuyện khác.
“Công nhân và nông dân là giai cấp tiên phong cách mạng”. Đó là những gì màngười ta hứa trên hình thức và trước khi cướp chính quyền.Nhưng khi đã nắm quyền cai trị, mọi chuyện lại diễn ra theo chiều hướng ngược lại. Giai cấp vô sản không những không được hưởng tựdo, quyền lợi mà còn bị bần cùng hóa và siết chặt nhân quyền hơn trước. Người Công Nhân bị cấm thành lập Công đoàn độc lập, vốn là quyền căn bản thiết thân.Họ còn bị kiểm soát chặt chẽ bởi hệ thống công đoàn nhà nước, mọi hành động phản đối bất công đều bị coi là chống lại chế độ.Người nông dân cũng bị bóc lột và đẩy đến đường cùng, họ phải bỏ ruộng nương ra thành phố để kiếm sống bằng mọi cách trong một xã hội đầy rẫy hiểm nguy. Phần đa trong số họ đã chọn con đường xuất khẩu lao động như một lối thoát duy nhất chobản thân và gia đình.
Nhà nước hiện thời là một tập đoàn lợi ích, coi trọng kẻ giàu, khinh rẻ người nghèo. Đảng liên kết với những tầng lớp giàu có để cai trị và bóc lột nhân dân. Đâu còn là “Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động” như họđã từng nói. Thành ra giai cấp vô sản giờ đây lại khổ gấp trăm gấp ngàn lần xưa. Vì vậy mà trong mắt họ, không có bất kỳ vị trí nào cho đảng, ngoài nỗi sợ hãi và phục tùng miễn cưỡng.
Vậy thì đảng Cộng Sản bây giờ là của ai? Khi mà họ không thực hiện đúng vai trò như cương lĩnh đã ghi? Nếu không đại diện cho giai cấp vô sản, thì họ còn có lý do gì để mà tồn tại nữa? Rõ ràng là đảng không hề đại diện cho những người thuộc tầng lớp dưới của xã hội (vô sản), và thực tế họ cũng không xứng đáng với điều đó.
Từ lâu người dân lao động đã nhận ra rằng, đảng đã dối lừa và phản bội họ. Nhưng với một hệ thống nhà nước toàn trị như vậy, việc đoàn kết được với nhau để đưa ra ra yêu sách là điều hết sức khó khăn.Đàn áp và trù dập là câu trả lời của nhà nước đối với người dân khi họ đấu tranh đòi quyền lợi và công bằng. Hình ảnh một chế độ nhà nước đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã thực sự biến mất, không hề để lại dấu vết nào.
Trong các khu công nghiệp hiện nay, người công nhân sống khổ sở với đồng lương chật hẹp, phải đối mặt với nạn bạo hành của chủ lao động. Họ bị bóc lột thậm tệ, bị sa thải một cách vô lý nhưng không hề có sự bảo vệ của tổ chức Công đoàn. Hệ thống này vốn là một bộ phận trong bộ máy nhà nước, được lập ra với mục đích giám sát và kìm kẹp người lao động. Giờ đây người công nhân đã hiểu được rằng, họ phải tự đứng lên để bảo vệ quyền lợi của mình, không thể tin vào lời hứa suông từ phía nhà nước được.Và nhiều vụ đình công tự phátđã nổ ra nhưng bị nhà nước dập tắt và ém nhẹm. Giai cấp Công Nhân vốn được coi là “Tiên phong cách mạng”, giờ đây thực sự trở thành những nô lệ mới của thời đại. Mọi tiếng nói quyền lợi bị chìm khuất trong đêm đen và những mĩ từ như “Hiện đại hóa, công nghiệp hóa”, “Mái ấm Công Đoàn”…
Vốn là tầng lớp thấp cổ bé họng, những người lao động thực sự là đối tượng dễ bị bóc lột và tổn thương nhất trong xã hội. Nhà nước đã không giữ lời hứa và bỏ rơi họ, sự hy vọng cho một cuộc sống ấm no công bằng giờ đây trở nên xa vời.Hằng ngày hằng giờ, vòng xoáy đàn áp và bóc lột cứ đeo bám người dân vô tội như một định mệnh oan nghiệt.
Giờ đây đảng đã thực sự trở thành một guồng máy siêu bóc lột. Thay vì phục vụ và bảo vệ nhân dân, quân đội và cảnh sát trở thành những công cụ đàn áp công khai. Với một chế độ nhà nước đã mất hoàn toàn tín nghĩa như vậy, liệu họ còn có lý do gì để tồn tại? Có thể nói rằng, đó chỉ là một tập đoàn lợi ích, tồn tại dựa trên sự đàn áp và bóc lột nhân dân, một nhà nước phi pháp và phi nghĩa.
Thiết nghĩ rằng, người dân không còn hy vọng gì vào một chế độ nhà nước như vậy trong việc phục vụ nhân dân. Họ không thể nào mang lại hạnh phúc, cũng như sự an toàn cho người dân, càng không thể vì sự lớn mạnh của quốc gia dân tộc.
Người ta không thể xây dựng và phát triển đất nước bằng đàn áp và bóc lột.Các giá trị tự do, ấm no và tiến bộ không thể có được bằng những lời hứa suông của đảng.
01/8/2014
Tác giả gửi đăng