17.6.14

Đứa nào bán nước? – Thằng Việt cộng

...Mẹ kiếp bây giờ đã thấy rõ đứa khốn nạn, chó dại nào bán nước cầu vinh chưa?
 
 
Đứa nào bán nước? – Thằng Việt cộng

  Bùi Bảo Trúc

Thư gởi bạn ta,
Công hàm rước Hán. Tranh Babui.

Đứa nào bán nước? Đoạn video xem được trong internet về chuyến đi mới đây của một nhóm người đến đảo Song Tử Tây, một hải đảo thuộc quần đảo Trường Sa, cho thấy cảnh một sĩ quan hải quân Cộng Sản Việt Nam đứng giải thích cho những người trong chuyến đi về một cột mốc bằng xi măng dựng trên đảo.

Bằng giọng Bắc đặc sệt, người quân nhân này vừa chỉ vào tấm bia xi măng vừa nói rằng cột mốc là một bằng cớ quan trọng có thể dùng để trưng ra làm bằng cớ về chủ quyền của Việt Nam trên đảo.

Anh ta chỉ vào tấm bia có từ ngày 22 tháng 8 năm 1956 do hải quân Việt Nam Cộng Ḥòa dựng lên trong một chuyến đi thị sát nghiên cứu và thăm đảo. Tấm bia ghi rõ quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy của Việt Nam Cộng Ḥòa.. Anh ta nói rằng tấm bia rất quan trọng vì nó chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên đảo. Anh ta nói thêm đó là bằng chứng lịch sử xác thực do hải quân của “chế độ cũ”, tức là chế độ Ngô Đình Diệm dựng lên.

Kế đó, anh nói thêm đó là tấm bia ghi rõ Việt Nam Cộng Hòa chứ không phải Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Rồi anh chỉ vào một chi tiết khác của tấm bia và nói đó là biểu tượng của “ngụy quân Sài Gòn và chính phủ Ngô Đình Diệm.”

Mẹ kiếp, các con muốn dùng những thứ ấy trong những tranh chấp về lãnh thổ với Bắc Kinh thì trước hết, các con phải thay đổi ngay cái lối ăn nói mất dậy, vô giáo dục của các con. Tiếp tục gọi chính phủ ở miền nam vĩ tuyến thứ 17 là “ngụy quyền” thì các tài liệu, lập luận của các con liên quan đến Trường Sa và Hoàng Sa sẽ không có giá trị gì hết.

Các con coi Việt Nam Cộng Ḥòa là “ngụy quyền”, là “chính quyền lập ra để chống lại chính quyền hợp pháp của nhân dân chống xâm lược”. Các con coi chỉ có các con mới là chính quyền hợp pháp (tức là chính phủ Việt Nam Cộng Ḥòa của cả hai nền cộng hòa ở nam vĩ tuyến 17 là bất hợp pháp) thì tại sao các con lại lôi các tài liệu bằng chứng lịch sử của chính quyền “ngụy” ra để chống lại lập luận xâm lược của Tầu Đỏ bây giờ?


 
Các con phải bỏ ngay cái lối ăn nói mất dậy, vô giáo dục của cả nhà các con mỗi khi nói về các chính phủ ở nam vĩ tuyến 17 trước năm 1975 thì mới có thể trưng ra những bằng cớ hợp pháp về chủ quyền của Việt Nam tại các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Làm như thế mới có được sức mạnh đoàn kết của toàn dân mà các con rất cần vào lúc này. Phải công khai nhìn nhận các nỗ lực và hy sinh của người dân và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đối với toàn vùng lănh thổ của đất nước.

Ngày nào mà các con không chịu công nhận và ghi ơn những hy sinh của các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa ở Hoàng Sa trong trận hải chiến kéo dài từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, và tiếp tục cái lối ăn nói mất dậy gọi Việt Nam Cộng Hòa là “ngụy”, thì ngày đó các con sẽ vẫn chỉ là một bọn phản quốc, sẵn sàng cắt đất, dâng đảo ngoài khơi và sẵn sàng ăn cứt cho bọn Tầu Cộng.

Nên nhớ tấm bia của quân đội Việt Nam Cộng Hòa dựng lên ngày 22 tháng 8 năm 1956 không có nghĩa là chỉ từ ngày đó trở đi, chủ quyền của Việt Nam mới có trên đảo, mà còn cả trước đó nữa. Bắc Kinh không hề có bất cứ một chứng cớ nào có thể đưa ra về chủ quyền của chúng trên các đảo này.

Nhưng cái này khó hơn cho các con trong những tranh cãi về lãnh thổ với Bắc kinh. Tấm bia của Việt Nam Cộng Hòa dựng lên ngày 22 tháng 8 năm 1956, thì ngày 14 tháng 9 năm 1958, tức là sau ngày dựng tấm bia hai năm, thì thủ tướng của các con gửi một công hàm cho cha nó là Chu Ân Lai nói rằng nhà nước của các con “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 58 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc”. Cũng trong bức công hàm ô nhục đó, Phạm Văn Đồng còn viết thêm là sẽ “chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng quyết định của Bắc Kinh trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể”.

Rành rành ra như thế rồi thì làm thế nào các con vô hiệu hóa được cái công hàm khốn nạn đó. Chính thủ tướng của các con đã ngu xuẩn và nhanh nhảu viết bức công hàm đó chỉ 10 ngày sau khi Bắc kinh tuyên bố láo lếu về chủ quyền của bọn chúng, và tình nguyện nhìn nhận, tôn trọng quyết định ngang ngược xâm lăng của bọn Tầu.

Đến nay, các con mới quýnh quáng không biết ăn làm sao, nói làm sao vì cái miệng mắc bố nó cái quai công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng. Trong khi đó, sau 40 năm các con vẫn chưa dám nói về trận hải chiến ở Hoàng Sa và các hy sinh của hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Các con vẫn không dám gọi thẳng bọn Tầu khốn nạn là bọn xâm lược thì các con chống Tầu thế chó nào được, và các con vẫn tiếp tục đàn áp những tiếng nói yêu nước khi người dân Việt lên tiếng về việc lãnh thổ của cha ông bị bọn chó Bắc kinh xâm chiếm thì các con sẽ không bao giờ có được hậu thuẫn và ủng hộ rất cần của toàn dân để chống lại Tầu cộng.

Mẹ kiếp bây giờ đã thấy rõ đứa khốn nạn, chó dại nào bán nước cầu vinh chưa?

Bùi Bảo Trúc

Màn kịch biểu tình

                              Cánh màn nhung đã hạ

Ngày 18-5-2014, cuôc biểu tình đã bị đàn áp dã man. Một vài độc giả gửi thư cho biết từ nay các cuộc biểu tình đã chấm dứt, Trung Cộng cứ an chí xâm chiếm Việt Nam mà không sợ ai phản đối. Được tin trên, chúng tôi vẫn nhẫn nại chờ đợi phối kiểm, nhưng tất cả đều im lặng. Nay chúng tôi cũng được thư độc giả thông báo rằng tất cả chỉ là màn kịch, và màn kịch đã diễn xong.

Tại Cuộc đối thoại Shangri-la ngày 31-5-2014, Phùng Quang Thanh trở giọng là vì màn kịch tại Việt nam đã kết thúc.

Chúng ta nên nhớ đài BBC ngày 7 tháng 6, 2013 cho hay 22 cán bộ chính trị cao cấp thuộc diện cốt cán của quân đội Việt Nam vừa lên đường sang tập huấn nửa tháng ở Trung Quốc [1]. Đây là bọn thủ hạ Trung Cộng được lệnh sang nhận chỉ thị và thực tập cuộc đàn áp nhân dân Việt Nam.

Và chính bọn này đã đóng vai trò quan trọng trong màn kịch ngày 11 và 18-5-2014.

Chính đảng và nhà nước kêu gọi biểu tình ngày 11-5-2014, và chính bọn cho công an, bộ đội giả người biểu tình để đập phá, cướp bóc tại Bình Dương và Hà tĩnh. Họ làm việc này để lấy cớ bỏ tù hàng ngàn người yêu nước và vu cho họ tội cướp bóc. Và họ dàn cảnh này để đưa công an, bộ đội với xe tăng, máy bay đi trừ khử những ai có chủ trương chống Trung cộng. 
Trong lúc đó, tại biên giới, Trung cộng dàn quân hăm dọa làm cho tình hình rối mù để chân tay Trung cộng tàn sát, bắt bớ. Ngoài biển, bọn tay chân Trung Cộng cũng làm bộ tấn công đàn khoan HD 981. Nguyễn Tấn Dũng lên gân, Phạm Bình Minh cầu cứu Mỹ nhưng cho đến nay y chẳng đi Mỹ theo lời mời của ngoại trưởng Mỹ ngày 21-5-2014. Phải chăng bọn họ đóng kịch để gạt nhân dân ta và thế giới, hoặc bọn họ đã bị kiềm chế?


Trong lúc đó, Nguyễn Thanh Sơn sang Trung cộng ký thêm hiệp định bán nước. Thế là từ nay, dân ta bị bắt hết ráo, không còn ai biểu tình chống Trung cộng, và cảnh sát biển yên chí đi câu cá, mặc cho dàn khoan kéo đi khắp hải phận Việt Nam.

Trước đây ông Lữ Giang đã nói một phần về kịch bản của Việt Cộng trong Qua một trận đánh có bài bản  đăng ở Thời Luận  ngày Thứ ba, 27 Tháng 5 2014 16:16, có đoạn như sau:

Kịch bản được diễn khá hay
Đầu tháng 5, khi Trung Quốc bắt đầu dời giàn khoan đi ra Biển Đông, Hà Nội cho diễn kịch bản đã được soạn sẵn. Điều mà Hà Nội lo sợ không phải là đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông vì trận chiến này còn dài và phải qua nhiều giai đoạn phức tạp. Điều mà Hà Nội lo sợ là các cuộc nổi dậy chống Trung Quốc ở trong nước sẽ bùng phát mạnh và sau đó biến thành các cuộc nổi dậy chống chính quyền. Do đó, chính quyền phải ra tay trước. Người chỉ huy trận đánh này không phải là Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng hay Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang mà là Trung Tướng Hoàng Kông Tư, Quyền Tổng Cục Trưởng Tổng Cục An ninh II.
 
Ngày Chủ nhật 11/5/2014được coi là một ngày khác thường trong sinh hoạt chính trị ở Việt Nam. Từ thành phố đến thôn quê đều xuất hiện những đám đông biểu tình phản đối Trung quốc xâm lược và yêu cầu cải tổ đất nước. Trên đường phố Hà Nội, người ta thấy xuất hiện hai nhóm khác nhau rất rõ rệt, một nhóm vừa hô chống Trung Quốc vừa kêu gọi ủng hộ chính quyền. Nhóm này có thể là của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM. Nhóm kia tập họp theo lời kêu gọi của 20 "tổ chức dân sự". Nhà cầm quyền gọi đó là "nhóm tự phát". Cuộc biểu tình đã diễn ra một cách suôn sẻ, không bị công an gây khó dễ như các lần biểu tình trước.

Qua ngày 12/5/2014 các cuộc biểu tình đã nổi ra nhiều nơi, nhất là tại Bình Dương và Vũng Áng (Hà Tĩnh), nơi có các cơ sở đầu tư của người Trung Quốc. Tại hai nơi này, các vụ bạo động đã xảy ra. Chúng ta hãy nghe ông Mai Đức Chính, Phó Chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam kể lại. Ông nói rằng đây là những cuộc biểu tình được "kích động gây bạo loạn, có tổ chức rất chặt chẽ". Những người "kích động" đã chuẩn bị mua cờ, áo "với số lượng rất lớn" và phát áo cho công nhân. 
Ông nói với báo Người Lao Động:
"Chuyên nghiệp hơn, chúng đã photocopy bản đồ tất cả doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan để thuận tiện ra tay. Chúng còn sử dụng cả bộ đàm liên lạc với nhau, đi bằng xe máy cho cơ động. Trong xe đều có đủ đồ nghề dao, kiếm. Chúng còn sử dụng cả ‘bom xăng’ để đốt công ty". "Thậm chí, có nơi còn phát tiền mỗi công nhân được 50.000 đồng. Việc này đã có sự chuẩn bị với số đông lực lượng bất hảo".
"Ở thời điểm biểu tình đang ‘nóng’, chúng nhắn tin kêu gọi biểu tình cho 200 - 300.000 đồng, yêu cầu nếu có cả trẻ con thì cho mang theo". 


Mục tiêu của kịch bản

Trong một chế độ được kiểm soát chặt chẽ như ở Việt Nam hiện nay, ai có thể thực hiện được những chuyện bạo động kinh hoàng như đã nói trên? Đa số các cơ quan truyền thông quốc tế cũng như các nhà tranh đấu ở trong nước đều tin rằng ngoài chính quyền không ai có thể làm được chuyện đó. Vậy chính quyền kích động biểu tình bạo động để làm gì? Có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng hai mục tiêu sau đây được coi là hai mục tiêu chính. Mục tiêu thứ nhất là dựa vào bạo động để ban hành lệnh cấm biểu tình. Mục tiêu thứ hai là phát hiện những thành phần bị coi là nguy hiểm. 

1. Dựa vào bạo động để cấm biểu tình.

Sau khi các biến cố bạo động nói trên đã diễn ra, chính quyền đã ra lệnh cấm biểu tình trên toàn quốc. Trong bài "Việt Nam: Chính quyền cấm biểu tình phản đối Trung Quốc" phổ biến ngày 18/5/2014, đài RFI đã mở đầu như sau: "Sáng nay, Chủ nhật 18/05/2014, chính quyền Việt Nam đã huy động một lực lượng công an và an ninh đông đảo để ngăn chặn các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam. Trong những ngày qua, nhiều tổ chức xã hội dân sự đã kêu gọi người dân xuống đường".

Điều mà chúng tôi cần nhấn mạnh ở đây là mục tiêu của lệnh cấm biểu tình không phải là vì sợ Trung Quốc mà vì sợ các cuộc biểu tình đó sẽ biến thành những cuộc biểu tình chống chính quyền. 2. Phát hiện các thành phần bị coi là nguy hiểm Khi một biến cố chính trị xảy ra hoặc được tạo ra, công việc đầu tiên của cơ quan an ninh là phát hiện ra các thành phần bị coi là nguy hiểm, đó là những thành phần lãnh đạo biến cố và các thành phần có khả năng kích động làm cho biến cố bùng mạnh lên.

Vụ Thiên An Môn là một thí dụ điển hình. Biến cố bắt đầu xảy ra từ 16/4/1989, lúc đó chính quyền có thể dẹp ngay một cách dễ dàng, nhưng chính quyền không làm như vậy, họ để cho biến cố bùng nổ ngày càng lớn và kéo dài. Họ còn cho Thủ Tướng Triệu Tử Dương ra thương lượng với các nhóm lãnh đạo sinh viên... Trong khi đó, các nhân viên an ninh giả dạng sinh viên đi điều tra xem những ai là người lãnh đạo biến cố và các thành phần có khả năng kích động để đưa biến cố đi lên..., quay phim và chụp hình. Mãi đến đêm 3/6/1989 họ mới cho công an đi lượm các thành phần bị coi là nguy hiểm, sau đó cho xe tăng và quân đội quét sạch quảng trường Thiên An Môn. Theo báo cáo của tổ chức Hồng Thập Tự Quốc Tế, có khoảng 2.600 người dân bị giết và hơn 30.000 người bị thương. Hơn 1.500 người bị bắt, trong đó có ít nhất 6 lãnh tụ sinh viên trong danh sách 21 người bị truy nã.

Vụ bạo động từ 12 đến 15/5/2014 vừa qua tương đối nhỏ, nhưng đã có đến 1.036 người bị bắt giữ ở tỉnh Bình Dương, 753 nghi can đã bị truy tố về các tội "gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản, trộm cắp tài sản và chống người thi hành công vụ". Đối với các thành phần nguy hiểm khác thoát khỏi bị bắt, công an đã cô lập họ. Các tin tức từ Nghệ Tĩnh chưa được công bố đầy đủ.[2]
Tiến sĩ Phan văn Song nhận định giống như Lữ Giang.

Cộng sản Việt Nam chỉ cho phép biểu tình nửa vời để gọi là phản đối Tàu ! Nửa vời vì vẫn hạn chế, vẫn kiểm soát, vẫn cho công an bố trí, theo dõi, bắt bớ. Cho phép để biết rõ đối lập, để biết rõ đường đi lối về. Cho phép để “hốt trọn” đối kháng. Nửa vời vì cuối cùng lại cũng dẹp biểu tình, lấy cớ để bảo vệ kiều dân Tàu, để bảo vệ kiều dân và cơ sở “ngoại quốc”. Không ai có thể “ tự tạo bạo động” và “tự giữ an ninh trong bạo động” được cả ! Vừa muốn giựt giây mà sợ động rừng; vừa điêu ngoa xỏ lá một mặt tổ chức phản đối Tàu xâm phạm lãnh thổ “để làm vừa lòng dân ?” hay để “kiểm soát lòng dân ?”, và một mặt đàn áp biểu tình “trấn an đàn anh Tàu ?” hay “tạo an toàn cho chủ nhơn” ? ! Sự thật là Đảng Cộng sản Việt Nam đã thật sự bán Việt Nam cho Tàu từ lâu rồi, vì vậy mới có những hành động dở dở ương ương như vậy [3]


Ngọc Nhi Nguyễn nhận định : Bạo loạn Bình Dương là trò của nhà nước CSVN bày ra để lấy lý do tắt đèn xanh việc biểu tình chống TQ ? Và là cớ để sau này dễ dàng chụp mũ bắt bớ người yêu nước ? Cũng giúp cho TQ có cớ đưa quân vào VN ?[4]
Tạp chí Ngôn luận online cho rằng chính Nguyễn Tấn Dũng bày ra mọi thủ đoạn:
Trở lại chuyện giàn khoan, cùng lúc lên gân chống Tàu cộng bên lề các diễn đàn quốc tế nói trên, chính Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị (chắc thế, vì ai có trách nhiệm và quyền lực cao hơn nữa?) cho tay chân tổ chức cuộc biểu tình song hành để phá thối cuộc biểu tình yêu nước của nhân dân ngày 11-05, cho công an để mặc bọn côn đồ mang cờ đỏ thỏa sức tấn công, đập phá các công ty xí nghiệp tại Bình Dương ngày 13-05 ngõ hầu Dũng có thể ban mệnh lệnh “cấm biểu tình trái pháp luật” (qua các công ty viễn thông Viettel, Mobifone và Vinafone) đến 50 triệu thuê bao điện thoại trong ngày 17-05, và chính ngày 18-05 thì cho lực lượng của đảng (công an, dân phòng, côn đồ, đoàn thanh niên CS…) đàn áp thẳng tay cuộc biểu dương lòng căm phẫn của nhân dân trước ngoại thù xâm lược [5]


Hiện nay các nhà bình luận chia hai nhóm. Một nhóm cho là phe Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Chí Vịnh  theo Trung quốc bày ra các màn kịch, còn một nhóm cho rằng Nguyễn Tấn Dũng cũng là tay sai Trung cộng nhưng đóng vai thân Mỹ cầu tài và để che mắt thế gian.


Theo Nguyễn Gia Kiểng, mục đich Trung Cộng đưa dàn khoan HD 981 đến hải phận Việt Nam là để cứu mạng phe thân Trung cộng trong đó nhân vật quan trọng nhất là Nguyễn Tấn Dũng , tạo cho y hình ảnh người hùng chống Trung Cộng, vì y có công với Trung Cộng nhiều nhất.[6]. Nếu giả thuyết này đúng thì tất cả tấn kịch từ trước đến nay là do Nguyễn Tấn Dũng  biểu diễn.

Chiếm Việt Nam thì dễ nhưng không thể dùng thuật này áp dụng cho Phipippines, Nhật bản, vì họ sẽ nổ súng chống lại Trung cộng. Cuối cùng kẻ yếu và người mạnh không dùng lý mà dùng vũ lực. Dù chiếm được Trường Sa, Hoàng Sa, dù được Việt Cộng đầu hàng làm tay sai, cuối cùng Trung Cộng sẽ chết. Tất cả những  cuộc đấu khẩu, những màn kịch cỡm  sẽ được thay bằng tiếng súng đạn và hỏa tiễn. Rồi đây  Biển Đông sẽ là mồ chôn Trung cộng và Việt cộng.
Vạn Mộc Cư Sĩ

15.6.14

Ngày quân lực VNCH 19 tháng 6



       

                    VINH DANH QLVNCH
TINH THN NGÀY QUÂN L19/06 BT DIT !!!


 " On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys "


  "Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn."


General William C.  Wesmorelands

Chúng tôi những người lính cũa Quân đội  Việt Nam Cộng Hoà


Sau 30-4-1975 Việt Nam Cộng Hòa mất vào tay Cộng Sản, nước mất nhà tan, một số quân dân cán chính bôn ba đi vượt biên trên những chiếc thuyền mong manh trôi dạt trên biển cả mênh mông, hay gian khổ trèo non lội suối quanh bầy dã thú trên rừng sâu nước độc. Tất cả gian khổ, đổi mạng sống vì hai tiếng Tự Do… Nơi hải ngoại, sau 39 năm dài đằng đẳng, ngưòi Việt vẫn liên tục cử hành Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6. Những buổi lễ kỷ niệm ngày QLVNCH càng ngày càng rầm rộ hơn khi chương H.O lần lượt được đi định cư tại Mỹ. Các anh lính chiến ngày nào còn son trẻ đã xả thân mình hy sinh cho lý tưởng quốc gia, giữ gìn non sông gấm vóc, chống trả Việt Cộng tàn ác. Thời gian thấm thoát thoi đưa, các anh ấy nay đã lớn tuổi mà không chịu nghỉ ngơi, coi mình chưa làm xong nhiệm vụ, chưa giải ngũ, vẫn tiếp tục cùng đồng bào quân dân cán chính chiến đấu bằng tim óc trong một cuộc “chiến tranh khác” (other war) - là cuộc chiến tranh chánh trị, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Cuộc chiến này đang thắng lợi, vì nhà cầm quyền CS Hà nội vi phạm nhân quyền….

Nhìn lại trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng ở VN trước 75, QLVNCH là những người Việt/ Bắc, Trung, Nam, đồng bào Thượng, đồng bào gốc Miên, gốc Hoa đã đòan kết một lòng chiến đấu cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để bảo vệ quê hương xứ sở, nền văn hóa quốc gia dân tộc trước làn sóng xâm lăng của CS. Quân dân cán chính VNCH đã chiến đấu hào hùng, bẻ gảy mọi cuộc tấn công của CS suốt hai thời đệ nhứt và đệ nhị VNCH. Việt Cộng tới đâu dân chúng VNCH gồng gánh mớ tài sản ít ỏi chạy trốn đi. Họ đi theo sự mở đường của QLVNCH đến vùng đất hứa xây dựng gia đình, tìm cớ sinh nhai…

Trong cuộc chiến Nam Bắc có trên 400.000 quân nhân VNCH đã hy sinh cho Tổ Quốc, so với dân số Mỹ với số 2 triệu quân nhân thương vong trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc của Mỹ, thì tỷ lệ tổn thất của QLVNCH cao gấp đôi của Mỹ! Được biết sau 39 năm mất miền Nam Tự Do nước Việt, những tài liệu về Chiến tranh Nam Bắc VN, Mỹ đã giải mật gần hết! Những nhà nghiên cứu và lịch sử đã trả lại chân lý cho QLVNCH đã bị đám Phản Chiến, thiên tả Mỹ gieo ngộ nhận, hàm oan, tiếng xấu trước dư luận quốc tế & nước Mỹ qua truyền thông báo chí... Như trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của Cộng sản Bắc Việt, quân nhân VNCH đã chống trả một cách quyết liệt và hữu hiệu, gườm tay súng không buông đầu hàng & khuất phục quân thù…Kết quả CS thua trận khốc liệt phải vào bưng để xác lại đầy dẫy tại nơi tạm chiếm đóng…

Quân lực VNCH chiến đấu hào hùng, dũng cảm. Tiêu biểu như trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, tử thủ chiến trường An Lộc, trận Khe Sanh… Trên Báo Armed Forces Journal của Mỹ số 19 tháng 4 năm 1972, Đại tá Robert Monelli, một sĩ quan Hoa Kỳ có mặt trong mặt trận đó đã kể lại: "Một tiểu đoàn VNCH với 420 binh sĩ bị bao vây liên tiếp trong ba ngày bởi một trung đoàn Cộng Sản độ 2,500 đến 3,000 tên. Quân đội Hoa Kỳ không thể tiếp tế cho họ được. Họ phải chiến đấu cho tới khi gần hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới tịch thu của địch. Họ đã mang theo tất cả binh sĩ bị thương và cả một số xác chết. Không ảnh thám sát chụp được rõ ràng có 637 xác địch rải rác chung quanh căn cứ. Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn trên chỉ còn lại có 253 binh sĩ sau khi đến được vòng đai bạn.”

Trận chiến sau cùng năm 75, VNCH bị Mỹ bức tử. Mỹ cúp viện trợ quân sự cho QLVNCH, kể cả đạn dược và xăng dầu thiết yếu. Thế nhưng một sư đoàn của QLVNCH đã anh dũng cầm cự chiến đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt trong suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc. Nhưng thảm thương thay ván bài chính trị đã được sắp sẵn! Quân ta không đạn dược súng ống lương thực & sự yểm trợ của khối Tự Do nên đành rút từ từ vào Nam để ngõ những mảnh đất thân yêu cho giặc vào chiếm cứ như chỗ không người và cứ thế nên phải mất non sông gấm vóc vào tay CS.

Ngày Quân Lực là ngày thán phục những quân nhân VNCH sau nhiều năm tù đày còn da bọc xương, nay đi tỵ nạn chánh trị ở các nước, đã đem hơi tàn lo làm ăn chăm chỉ, lo cho cuộc sống gia đình ổn định vì các anh là cột trụ trong gia đình nên phải tạo điều kiện thuận lợi cho thế hệ con cháu vươn lên sánh vai với người bản xứ qua học thức, thành đạt về mọi mặt… văn hóa, xã hội, tài năng mọi ngành nghề góp sức cho nền kinh tế Hoa Kỳ càng thêm thịnh vượng. Đáng phục là các anh không quên trách nhiệm chí trai và không nghĩ rằng mình đã giải ngũ. Sau 39 năm- nơi hải ngoại, bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt là có các tổ chức chánh trị, hội đoàn, văn hóa, xã hội ngoại vi, thân hào nhân sĩ mãi mãi tranh đấu cho Việt Nam có Tự Do, Dân Chủ & Nhân Quyền mà phần lớn có anh chị em QLVNCH kề vai sát cánh. Bất cứ nơi nào có biểu tình chống Cộng là có mặt anh chị em quân nhân VNCH đảm trách vai trò xương sống và an ninh nổi chìm cho cuộc đấu tranh. Ngày Quân Lực là ngày nhớ ơn những người mẹ, ngưởi vợ, người chị, người em gái, nhưng con trai, gái nhỏ đã buôn gánh bán bưng lo tần tảo “ thăm nuôi chồng, anh em” là quân nhân QLVNCH bị đi tù. Ngày Quân Lực là ngày thế hệ trẻ nhận thức và khẳng định mình từ đâu, nhờ ai mà đến được những vùng đất hứa này để có cơ hội tiến thân ngàn lần hơn những người đồng trang lứa còn kẹt trong nước. Tóm lại chúng ta hãy sống làm sao cho xứng đáng, hãnh diện là con Rồng, cháu Tiên và không quên cội nguồn dân tộc, cùng tranh đấu cho VN sớm có Tự Do, Dân Chủ & Nhân Quyển, cùng sẵn sàng về xây dựng một VN phú cường sánh vai với thế giới khi đất nước không còn bóng dáng Cộng Sản.

“Còn đây một chút thịt xương ”

“Xin làm đá sỏi, lót đường đi chung”.

(Người Lính Già Xa Quê Hương /Anh Thành)

Câu thơ xúc động vô cùng,
Nói lên tâm trạng thủy chung một lòng.

“Lính Già” nghĩ tới non sông,
Xa quê… đứt ruột, đứt lòng người đi.
Thương quê chẳng biết nói chi,
Thốt lời tâm sự sầu bi não nùng…
Nhớ thời ngang dọc vẫy vùng,
Tung mây lướt gió không dừng bước chân…
Mất quê, trách nhiệm một phần,
Xa quê, là cả ngàn lần khổ đau…
Thương quê, nhớ nước nghẹn ngào,
Tuổi già… đành chịu, biết sao bây giờ?!
Chẳng phải lòng dạ thờ ơ,
Nhưng tài thô thiển chẳng nhờ vào đâu!
Đêm đêm nhang khói vọng cầu,
Người người dân Việt chung nhau góp phần…
Quyết tâm diệt bọn Cộng quân,
Đem lại no ấm ngàn lần hơn nay…
Cầu mong Người đủ đức tài,
Ra tay giúp nước, ơn này khó quên.
Vùng lên! Ta hãy vùng lên!
Dẹp tan giặc Cộng, đáp đền Tổ Tiên.
Cơm no áo ấm ba miền,
Bắc, Trung, Nam khỏi xích xiềng Cộng nô!
Đập tan bè lũ giặc Hồ,
Tự Do, Hạnh Phúc, cơ đồ nước ta.
Hải Ngoại quốc nội hoan ca,
Nhân Quyền, Dân Chủ nhà nhà an vui….

                NNT


Send from Houston

14.6.14

Cả nước đã bị lừa


 
Cả nước đã bị lừa
            Nếu không nhìn lại, mình sẽ mất quá khứ và tương lai .
              Châu Hiển Lý ( Bộ đội tập kết 1954 ).
 
       Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!
       150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 37 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

        Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.
Nhìn lại sau hơn nửa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :
_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?
_ Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?
_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
_ Tại sao đàn ông? của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?
_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?
_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

         Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xã hội phi nhân tính. Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.
Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.
Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.
Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

 Hiện tượng “Mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.
Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.
Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.
Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.
Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối, những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…
Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.
Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.
Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…
 
           Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.
Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang, vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian.
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp “vô sản” âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.
Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rũ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

           Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.
Chẳng hạn đảng nói “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói ” một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

           Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !
Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lỗi tầy trời của mình. Đảng sẽ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chắp vá một cách trơ trẻn.
Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ… đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.
Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :
         “Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
           Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”
Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ?
Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy?
Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chỗ cho cái xấu?
Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai!
Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.
Châu Hiển Lý
(Bộ đội tập kết 1954)

XIN ĐỪNG GỌI BÁC HỒ LÀ............

1

XIN ĐỪNG GỌI BÁC HỒ LÀ TÊN CHÓ ĐẺ

 Nguyễn Vĩnh Long Hồ


Thói thường ở đời, mỗi khi đánh giá nhân cách đồi bại, lưu manh, đểu cáng, lừa thầy phản bạn, tàn bạo, vô tình bạc nghĩa, buôn dân bán nước…của một nhân vật nào đó, người ta thường gọi là “ĐỒ CHÓ ĐẺ”, “ĐỒ CẨU TRỆ”, “ĐỒ CHÓ CHẾT”. Hồ Chí Minh cũng bị gọi là “TÊN CHÓ ĐẺ”. Vậy, nhân vật đầu tiên nào trong lịch sử đã gọi Hồ Chí Minh là “TÊN CHÓ ĐẺ”? Xin thưa, người đó là cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức. Do đâu mà Hồ Chí Minh bị cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức mắng thậm tệ như thế? Tôi xin dẫn chứng vài giai đoạn lịch sử, cái gọi là cuộc “Kháng chiến chống Thực dân Pháp” do Hồ lãnh đạo như sau:
LÀM TAY SAI CHO ĐỆ TAM CSQT:
Lúc đầu, Việt Nam có đến 3 tổ chức Cộng Sản: An Nam Cộng Sản ở Nam kỳ – Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ – Đông Dương Cộng Sản Đảng ở Bắc Kỳ. Cuối năm 1929, CSQT ban hành chỉ thị mang số 9444/5 ngày 27/10/ 1929 bằng tiếng Pháp ra lệnh cho 3 tổ chức phải thống nhất lại và một buổi họp được tổ chức tại Cửu Long từ ngày 2 đến 7/2/ 1930, thống nhất tổ chức lại, lấy tên là VIỆT NAM CỘNG SẢN ĐẢNG, đặt trực thuộc ĐÔNG PHƯƠNG BỘ của CỘNG SẢN QUỐC TẾ. Nhưng ngay sau đó, Đông Phương Bộ chỉ thị không được lấy tên Việt Nam Cộng Sản Đảng, vì tên nầy có tánh cách cục bộ và địa phương, mà phải đổi thành ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG.
Khi Hồ Chí Minh trở về Việt Nam hoạt động, Đông Dương Cộng Sản Đảng đã tổ chức bạo động khắp nơi, nên chỉ sau một thời gian hoạt động, đa số các đảng viên cốt cán đều bị Pháp bắt. Số liên hệ bị bắt lên đến 10.000 người. Hay tin nầy, CỘNG SẢN QUỐC TẾ đã chỉ thị cho Hồ Chí Minh từ Trung Quốc phải quay về hang Pắc Pó triệu tập hội nghị vào ngày 19/5/1941 để duyệt xét và điều chỉnh lại phương thức hoạt động. Trong đại hội, Hồ Chí Minh đọc chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế, ra lệnh cho các đảng viên của ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG lùi vào hoạt động trong bóng tối. Vì thế, đại hội đã quyết định tái lập VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH HỘI, gọi tắt là “VIỆT MINH” để hoạt động.
Như vậy, ngay trong thời kỳ đầu, việc hình thành từ danh xưng và cả đến phương thức hoạt động đều do CỘNG SẢN QUỐC TẾ quyết định. ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG chỉ là công cụ phục cho quyền lợi của CSQT mà thôi.
LÍNH ĐÁNH THUÊ CHO TRUNG HOA – MỸ – PHÁP:
Năm 1944, do sự thúc đẩy của Hoa Kỳ, chính phủ Trung Hoa đã tổ chức một hội nghị VIỆT NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG MINH HỘI (VIỆT CÁCH) tại Liễu Châu vào ngày 19/3/1944 để thành lập một tổ chức đưa trở về Việt Nam hoạt động chống Nhật. Hồ Chí Minh liền giơ tay xung phong. Hồ được Trương Phát Khuê và Việt Cách cấp giấy giới thiệu, một giấy thông hành dài hạng, một bản đồ quân sự, một số tiền mặt và 18 cán bộ do Hồ lựa chọn có tên sau đây: Dương văn Lộc, Vi văn Tôn, Hoàng Kim Liên, Phạm văn Minh, Hoàng văn Trao, Nông văn Mưu, Hoàng Sĩ Vinh, Trương Hữu Trí, Hoàng Gia Tiên, Lê Nguyên, Nông Kim Thành, Hoàng Nhân, Hoàng Thanh Thủy, Hà Hiến Minh, Dương Văn Lễ, Đỗ Trọng Viên và Đỗ thị Lạc.
Trước khi lên đường, Hồ xin 1.000 khẩu súng trường, 6 súng cộng đồng, 4.000 quả lựu đạn, 50.000 quốc tệ, 25.000 tiền Đông Dương và 15.000 viên thuốc quinine. Nhưng, Hồ chỉ được cấp một khẩu súng lục tùy thân và 76.000 quốc tệ với lời hứa khi các đơn vị chiến đấu được thành lập, Hoa Kỳ sẽ huấn luyện và cung cấp vũ khí. Hồ Chí Minh đã làm lễ tuyên thệ trước trước lá cờ của VIỆT NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG MINH HỘI và hứa trung thành với VNCMĐMH là giúp hai chánh phủ Trung Hoa và Hoa Kỳ thiết lập hệ thống tình báo tại Việt Nam.
•       Tháng 7 năm 1944, Hồ Chí Minh đem nhóm cán bộ được tuyển chọn về Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của “OFFICE OF STRATEGIC SEVICES” (OSS) , tức cơ quan Tình Báo Chiến Lược của Hoa Kỳ.
•       Ngày 16/7/1945, một toán biệt kích “Commando” Mỹ – Pháp gồm 6 người do Thiếu Tá ALLISON K. THOMAS cầm đầu, được gọi là DEER TEAM. Toán nầy nhảy dù xuống Kim Lung, Tuyên Quang để huấn luyện cho quân đội của Hồ Chí Minh chống lại NHẬT. Toán Deer Team đã huấn luyện các đơn vị của Võ Nguyên Giáp về hoạt động tình báo, lượng giá các tin tức, ám sát đến hoạt động tuyên truyền…
•       Sau khi huấn luyện xong. Từ ngày 10 đến 14/8/ 1945, Mỹ đã gởi đến cho Hồ các loại súng trường Garant M – 1, Carbines, tiểu liên, phóng lựu, Bazooka để chiến đấu chống với quân đội Nhật Bản. Như vậy, Hồ Chí Minh và lực lượng Việt Minh không phải là “LÍNH ĐÁNH THUÊ” cho Hoa Kỳ thì gọi là cái giống gì? Chính nhờ vào các võ khí do Mỹ cung cấp và huấn luyện mà Việt Minh đã cướp được chính quyền vào tháng 8/1945.
LÀM TAY SAI CHO TRUNG CỘNG:
Năm 1946, khi Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh rút khỏi Hà Nội và chạy lên vùng Việt Bắc. Từ 1947 đến 1949 là những năm Việt Minh là bị Pháp đuổi chạy dài. Giữa năm 1949, khi Hồng Quân Trung Cộng tiến về phía Nam Trung Hoa, Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã yêu cầu Đảng Cộng Sản Đông Dương đem quân chiếm vùng Ưng Long Khiêm, sát vùng Đông Bắc của Việt Nam; mặc dầu, lúc đó bị giặc Pháp rượt đuổi chạy vắt giò lên cổ. Dù vậy, Đảng Cộng Sản Đông Dương cũng phải cố gắng thành lập một lực lượng đặc nhiệm là sư đoàn 316 (còn gọi là sư đoàn Thổ) do Lê Quảng Ba (người gốc Tày) làm Tư Lệnh và Trần Minh Giang do Đảng Cộng Sản Trung Cộng cử qua làm Chính ủy.
•       Ngày 10 tháng 6 năm 1949, lực lượng nầy tiến vào đất Trung Hoa trong chiến dịch “Thập Đại sơn” đánh nhau với quân Tưởng Giới Thạch.  Đến ngày 5 tháng 7 năm 1949, lực lượng nầy trở lại Việt Nam.
•       Khi Trung Cộng chiếm xong Hoa Lục, Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan. Ngày 01/10/ 1949, Hồ cử Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thụy đến Bắc Kinh cầu viện. Hàng ngàn cán bộ và bộ đội Việt Minh đã được đưa qua Tàu huấn huyện về chiến thuật hành quân, kỷ thuật tác chiến, xử dụng vũ khí, tình báo… Trung Cộng muốn biến Việt Nam thành tiền đồn chống Chủ nghĩa Tư bản nên đã cung cấp vũ khí, quân trang, quân dụng thật dồi dào để đánh Pháp. Nhưng, Hồ Chí Minh phải thi hành những điều kiện và yêu sách do Mao Trạch Đông đưa ra và Hồ đã chấp nhận để cho Trung Cộng đề cử đoàn Cố vấn chính trị hùng hậu do Lưu Dương Bình lãnh đạo để giám sát và chỉ đạo các hoạt động của Việt Minh.
Từ đó, hiện tượng “Tàu hóa” ngày càng rõ rệt trong bộ đội Việt Minh: Hồ Chí Minh và dàn lãnh đạo Đảng CSVN như: Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẫn, Tôn Đức Thắng…đều vận y phục “đại cán”, vay mượn của Trung Cộng từ ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự…
Dưới áp lực của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh phải phát động cuộc “cải cách ruộng đất” đẫm máu, kinh hoàng theo kiểu Trung Cộng. Số người bị giết chết dã man trong chiến dịch nầy, lên đến mấy trăm ngàn người, dưới sự giám sát của các chuyên gia Trung Cộng. Có thể nói, nếu Trung Cộng không chiếm được Hoa Lục, làm gì Hồ Chí Minh và Đảng CSVN kết thúc được cuộc chiến tranh “Đông Dương lần thứ nhất”? Huyền thoại chiến thắng “Điện Biên Phủ” cũng là thứ huyền thoại dõm. Nếu không có đoàn chuyên gia quân sự ( CMAG) do Vi Quốc Thanh làm cố vấn, có lẽ không có trận Điện Biên Phủ.
Tóm lại, Trung Cộng đã đóng vai trò quyết định trong cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp và đánh bại quân đội viễn chinh Pháp, chớ không phải do Hồ Chí Minh và Đảng CSVN lãnh đạo, họ chỉ là những tên thừa hành lệnh của quan thầy Trung Cộng mà thôi.
HỒ CHÍ MINH NỐI GIÁO CHO GIẶC PHÁP :
Hồ Chí Minh đã gián tiếp nối giáo cho giặc Pháp, làm suy yếu tiềm lực chiến đấu chống Thực dân Pháp của người Việt Quốc Gia yêu nước. Bao nhiêu nhà ái quốc, các đảng phái cách mạng từ trong Nam ra Bắc, những anh hùng tử sĩ xả thân chiến đấu chống Thực dân Pháp, họ không chết trước họng súng của quân xâm lược Pháp mà chết vì sự khủng bố tàn bạo do bọn sát thủ của nhóm Dương Bạch Mai, Trần văn Giàu và hung thần Chợ Đệm Nguyễn Trấn. Dẫn chứng một vài trường hợp điển hình:
•       Đêm 23/9/1945, người bị giết đầu tiên, phơi thây trên đường Albert 1er là ông Lê văn Vững, Bí thư vùng Sài gòn – Chợ Lớn, thuộc nhóm Tranh Đấu. Trần văn Giàu sai sát thủ tên Lý Huê Vinh thuộc Quốc Gia Tự Vệ Cuộc ám sát.
•       Ngày 23/9/1945, cô giáo Nguyễn thị Lợi phụ trách báo Tranh Đấu cũng bị thủ tiêu ở Cần Giuộc.
•       Cuộc khủng bố trắng, ám sát các nhân sĩ yêu nước có uy tín với đồng bào nhưng không chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản bắt đầu từ ông Bùi Quang Chiêu, Hồ văn Ngà, Trần Quang Vinh, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là bác sĩ Nguyễn thị Sương (nguyên Thủ lãnh Phụ Nữ Tiền Phong), nhà báo Diệp văn Kỳ, luật sư Dương văn Giáo…
•       Đức Huỳnh Giáo Chủ đã bị tên Việt gian Bửu Vinh, cán bộ Việt Minh mưu sát tại làng Tân Phú (tức Đốc Vàng Hạ) vào ngày 16/4/1947 theo kế hoạch của Hồ Chí Minh vì chủ trương đấu tranh bất bạo động của Đức Huỳnh Giáo Chủ động viên hơn 4 triệu người Việt Quốc Gia yêu nước, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, giai cấp…hưởng ứng nhiệt liệt, và “Chủ nghĩa Quốc Gia” trở thành một thách đố gay gắt với chủ trương của Hồ Chí Minh là núp dưới chiêu bài “Giải phóng Dân Tộc” để thực hiện “Chủ nghĩa Cộng sản” trên toàn cõi Đông Dương theo lệnh của Đệ Tam QTCS. HCM đã nhờ ai đó viết trên báo L’HUMANITÉ rằng: “Le nationalisme était si on ne le controlait pas, un dangeureux phénomène risquant de menacer l’expansion du communisme dans les colonies” (Chủ nghĩa Quốc gia nếu không bị khống chế thì sẽ là một hiện tượng nguy hại cho sự phát triển Chủ nghĩa Cộng sản ở các xứ thuộc địa).
•       Hồ Chí Minh đã hiện nguyên hình là con chó săn cho thực dân Pháp, khi bán đứng cụ PHAN BỘI CHÂU cho thực dân Pháp tại Thượng Hải vào tháng 6/1925, với giá 10 vạn đồng để tiêu diệt VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI. Theo lệnh của Hồ Chí Minh, cán bộ Đảng Cộng Sản Đông Dương đã rãi truyền đơn tố cáo cuộc chuẩn bị tổng khởi nghĩa của VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG do Lãnh Tụ NGUYỄN THÁI HỌC đề xướng vào tháng 2/1930.
Ngoại trừ, những tên trí thức thiên tả bẻ cong lịch sử theo đơn đặt hàng của bọn đầu gấu Bắc Bộ Phủ, còn những nhà viết sử chân chính đều đi đến kết luận rằng: Nếu Hồ Chí Minh và Đảng CSVN không làm tay sai, lính đánh thuê cho Trung Cộng và Liên Xô thì Việt Nam đã không có cuộc chiến kéo dài 30 năm hoàn toàn vô ích, Việt Nam đã độc lập thực sự vào cuối thập niên 1940 và đã trở thành con rồng của Á Châu.
Ngày 16 tháng 6 năm 1997, Hà Nội tổng kết cuộc chiến kéo dài 30 năm và Thông Tấn Xã nhà nước CSVN  công bố như sau: 3.000.000 người Việt Nam thiệt mạng, 4.400.000 bị thương và 2.000.000 người bị nhiễm các chất độc hóa học. Mười năm sau 1975, có gần 5.000.000 trẻ em dị dạng vì hậu quả của chiến tranh. Những con số thương vong to lớn nầy, tự nó đã vạch trần sự thật về sự tuyên truyền khoác lác về kỳ tích chiến thắng ba đế quốc sừng sỏ NHẬT – PHÁP – MỸ do Hồ Chí Minh và Đảng CSVN  lãnh đạo.
Sau khi Thế Chiến II chấm dứt, phong trào giải đế, bài thực trở thành xu hướng chung của nhân loại. Lần lượt các quốc gia thuộc địa cũ của các đế quốc đều được trao trả nền độc lập mà không cần dùng đến hình thức “chiến tranh giải phóng dân tộc” do Hồ và Đảng CSVN lãnh đạo tại Việt Nam, vì nó sẽ gây đổ máu, nhiều chết chóc, tang thương, đổ nát vô ích, không cần thiết cho đất nước của họ.
•       Tại Á CHÂU: Các thuộc của Anh, Pháp, Hòa Lan… đều lần lượt thu hồi nền độc lập như Ấn Độ (1947), Miến Điện (1948), Tích Lan (1948), Phi Luật Tân (1946), Nam Dương (1949), Mã Lai (1957), Singapore (1959)…
•      Tại PHI CHÂU: Có khoảng 30 quốc gia đều trở thành độc lập như Algérie, Maroc, Tunisie…
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève về Việt Nam được ký kết: từ vĩ tuyến 17 là ranh giới chia đôi đất nước. Trên một triệu người Việt Nam từ miền Bắc di cư vào Nam, họ đã bỏ phiếu bằng chân để lựa chọn chế độ “Tự Do & Dân Chủ” của miền Nam. Hiệp Định Genève ra đời là do CSVN cấu kết với thực dân Pháp, còn phái đoàn Việt Nam Quốc Gia và Hoa Kỳ không ký tên vào Hiệp định nầy.
Tại Miền Bắc XHCN, chánh phủ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA do Hồ Chí Minh lãnh đạo, luôn rống gân cổ kêu gào, động viên nhân dân miền Bắc XHCN tiếp tục hy sinh sức người, sức của “ĐÁNH CHO MỸ CÚT – NGỤY NHÀO” để làm gì? Đây là những lý do:
Ngày 26 tháng 10 năm 1955 là ngày Quốc Khánh, mở đầu kỷ nguyên nước VIỆT NAM CỘNG HÒA  do Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM lãnh đạo. Suốt 9 năm cầm quyền, chánh phủ VNCH do ông lãnh đạo được trên 80 quốc gia trên thế giới công nhận và thiết lập ngoại giao và được gia nhập vào Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Yếu tố “Chính Danh” nầy đã làm cho Hồ Chí Minh tức tối.. Hồ điên cuồng ra lệnh cho bọn cán bộ VC nằm vùng (từ 3 đến 5.000) được cài ở lại trong miền Nam trước khi tập kết ra Bắc, bắt đầu hoạt động khủng bố, ám sát, bắt cóc… các viên chức chánh phủ để tạo nên tình trạng bất ổn trong dân chúng; vì thế, chánh phủ VNCH đã ban hành sắc luật “Đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật.”.
Còn cái là “MTGPMNVN” qua “Liên Minh Dân Chủ” rồi đến “Chánh phủ Lâm Thời Cộng Hòa MNVN”. Cả 3 tổ chức trá hình nầy không đại diện cho một ai cả, nó chỉ là công cụ, tay sai do bọn CSVN dựng lên để lừa bịp dư luận trong nước và thế giới và nó bịp luôn bọn trí thức ngây thơ ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng sản: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trịnh Đình Thảo, Trương Như Tảng, Ngô Bá Thành, Dương Quỳnh Hoa, Mã thị Chu…
Sau khi cưỡng chiếm MNVN, cái gọi là CPLTCHMNVN chỉ tồn tại một thời gian ngắn rồi bị tập đoàn Lãnh đạo Đảng CSVN xóa sổ ngay.
Núp dưới chiêu bài “Chiến tranh Giải Phóng Dân Tộc”  và “Chống Mỹ Cứu Nước” để phát động “CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC MIỀN NAM”. Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã nhìn mục tiêu “ĐỘC LẬP QUỐC GIA” chỉ là một chặng đường trên lộ trình vô sản hóa thế giới. Lòng nhiệt tình yêu nước của dân tộc Việt Nam bị Hồ Chí Minh lợi dụng, khai thác triệt để phục vụ cho âm mưu bành trướng lãnh thổ của Đệ Tam QTCS.
Rút kinh nghiệm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng điều động cả triệu quân chí nguyện trang bị vũ khí hiện đại, ào ạt vượt qua sông Áp Lục (Yalu river) đối đầu trực tiếp với quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh và chiếm được Hán Thành (Seoul) ngày 4/1/1951. Nhưng đến ngày 14/3/1951, Hán Thành được quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh tái chiếm lại, chí nguyện quân Trung Cộng bị tổn thất nặng nề, phải bỏ chạy về đến tận sát biên giới Trung – Hàn.
Vì vậy, trong cuộc chiến tranh Việt Nam lần nầy, ngoài việc tranh giành uy thế lãnh đạo trong khối Đệ Tam QTCS với Liên Xô, Trung Cộng cung cấp, yểm trợ các loại chiến cụ, quân trang, quân dụng… to lớn cho Hà Nội với hình thức bán chịu, lên đến 20 tỉ USD , và điều động 327.000 quân tới Bắc Việt Nam chỉ làm nhiệm vụ “giữ nhà” để quân CSBV rảnh tay, dồn hết quân nổ lực xâm lược Miền Nam Việt Nam. Bọn Trung Nam Hải vô cùng thâm độc trong quyết tâm: “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG!” và “DÙNG NGƯỜI VIỆT GIẾT NGƯỜI VIỆT”. Tên Việt Gian Hồ Chí Minh và Đảng CSVN chết tiệt đã xóa sạch nguyên cả thế hệ thanh niên Việt Nam để phục vụ cho tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Cộng.
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, khi Trung Cộng ngang ngược tuyên bố lãnh hải “Lưỡi rồng” chạy dọc bờ biển VN xuống Nam Dương, rồi vòng lên phía Đông, chạy dọc theo bờ biển Phi Luật Tân và tất cả các đảo ở Biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Để đền ơn bọn lãnh đạo Trung Nam Hải cho mua chịu 20 tỉ USD vũ khí, bom đạn…để giết người Việt Quốc Gia. Hồ đã muối mặt, chỉ thị cho Thủ tướng Phạm văn Đồng nhân danh chánh phủ VNDCCH đặt bút ký công hàm đề ngày 14/9/1958 gởi Thủ tướng Trung Cộng là Chu Ân Lai: “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố của chánh phủ nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Nếu chiếu theo “ĐIỀU 73 LÊ TRIỀU HÌNH LUẬT” thì cái tội phản bội Tổ Quốc của Hồ Chí Minh bằng cách cấu kết với ngoại bang, xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, tên Hồ Chí Minh phải bị bêu đầu là gương: “CHƯ MẠI BIÊN CƯƠNG ĐIỀN THỔ DỮ NGOẠI QUỐC NHƠN TRẢM” (Ai bán ruộng đất nơi biên cương cho người nước ngoài thì bị chém).
Ý đồ của Trung Cộng là muốn Hà Nội dùng chiến tranh du kích, trường kỳ kháng chiến để kéo dài cuộc chiến tranh làm cho Việt Nam kiệt quệ hoàn toàn, từ đó dễ bề thôn tính Việt Nam để làm bàn đạp, bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, làm chủ tình hình biển Đông, nuốt chững quần đảo HOÀNG SA trước, vói tay xuống TRƯỜNG SA sau nầy.
Nếu Hồ Chí Minh và tập đoàn Lãnh đạo Đảng CSVN không cam tâm làm tay sai và lính đánh thuê cho Liên Xô và Trung Cộng quyết tâm nhuộm đỏ MNVN trước, để làm bàn đạp bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á Châu, trực tiếp đe dọa đến chiến lược sinh tồn của Mỹ, Anh Quốc và khối Anglo Saxons ở Úc và New Zeland thì Hoa Kỳ và đồng minh đã không đổ quân vào MNVN để giúp chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa be bờ, ngăn chận làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn xuống MNVN và các nước ĐNÁ theo học thuyết DOMINO. Đây là cuộc “CHIẾN TRANH VIỆT NAM” do Hồ Chí Minh và Đảng CSVN gây ra theo lệnh của Đệ Tam QTCS…
CARL SCHMITT đã nói rất đúng: “Một dân tộc có sinh mệnh chính trị thật sự, khi nào tự nó với cái nhu yếu sống còn mà nhận thức ai là kẻ thù, tùy theo tình trạng thực tiễn mà nó phải đương đầu. Nếu dân tộc ấy phải chấp nhận kẻ thù do một thế lực ngoại bang chỉ định phải chiến đấu hay không chiến đấu thì dân tộc ấy không còn là một dân tộc còn quyền tự do chính trị nữa. Nó đã bị cuốn hút vào một hệ thống chính trị khác rồi.”
                                                                              *
Cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức gọi Hồ Chí Minh là kẻ vô học, có lẽ vô học nhất trong hàng ngũ lãnh tụ trên thế giới. Nhưng gian manh, đểu cáng, tàn bạo; có lẽ, vào bậc nhất trên thế giới. Từ vô học đến đểu cáng vô nhân đạo, vô ơn, bạc tình bạc nghĩa không xa. Tôi (cụ Chức) muốn nói đến vụ y đối xử với những người đàn bà đã hiến thân cho y, hoặc đã cưu  mang y.
Vụ nàng Nguyễn Thị Xuân – hiến trinh cho y, và có con với y, bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp cực kỳ dã man nhiều lần, rồi sau đó bị giết thê thảm – đã không thể xảy ra, nếu không có sự đồng tình mặc nhiên của Hồ Chí Minh.
Cụ Chức đánh giá về HCM không sai! Vào thập niên 1950, có lần HCM đứng trước ảnh của hung thần Staline và Mao, rồi nói với Phạm văn Đồng rằng: “Bác là người có khuyết điểm, chớ hai vị nầy là người trong suốt như pha lê, hoàn toàn không có tì vết. Vậy, chúng ta hãy lấy tư tưởng của người đưa vào Hiến pháp làm nền tảng chỉ đạo”.
André Gide lập lại ngôn từ của Thoreau, dùng để đánh giá HCM trong trường hợp nầy rất chính xác: “The worst thing is being the slave dealer of one’s soul.” (Cái tồi tệ nhất là tự thỏa thuận nô lệ trong tâm hồn con người.)
                                                                           *
Nhưng, thưa cụ VIP KK Nguyễn văn Chức, cụ gọi Hồ Chí Minh là “TÊN CHÓ ĐẺ” là cụ vô tình xúc phạm đến “DANH DỰ LOẠI CHÓ” rồi đó cụ ạ! Nếu như, Hồ Chí Minh có được 1/10 phẩm chất của loài chó, có lẽ đất nước Việt Nam đã đi vào một ngả rẽ khác có lợi cho dân tộc VN nhiều hơn.
Loài chó đáng được người ta “vinh danh” hơn là đem loài chó để so sánh với kẻ vô loại, ngu dốt như tên Hồ Chí Minh chẳng hạn. Tôi xin dẫn chứng hai câu chuyện về họ hàng nhà chó để cụ suy gẫm.
CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT: (nguồn Ba Cây Trúc ngày 13/1/ 2009 do Bửu Đồng chuyển ngữ).
Trước tòa án ngày 23/9/1870, Luật sư George Graham Vest (1830-1904) đại diện cho thân chủ Burden có con chó săn bị người hàng xóm tên Hornsby bắn chết. Burden thắng kiện và Vest nổi danh, sau đó, trở thành Dân Biểu rồi Nghị sĩ của tiểu bang Missouri.
Con chó tên “OLD DRUM” được nhiều người ngưỡng mộ dù đã chết. Ngày 23/9/1958, tượng Old Drum được đúc bằng đồng đen, dựng trước tòa án của Johnson County ở Warrensburg, tiểu bang Missouri.
Bài diễn văn tuyệt vời của Luật sư Vest đã gây xúc động cho mọi người có mặt trong phiên tòa, còn lưu lại tới ngày hôm nay. Nhà bỉnh bút William Safire và báo The New York Times đã chọn bài “TRIBUTE TO DOGS” (Vinh danh loài chó) của Luật sư Vest là bài diễn văn hay nhất “THIÊN NIÊN KỶ”.
Thưa Quý vị Bồi Thẩm.
Người bạn tốt nhất mà ta có được trên thế gian nầy, một ngày nào đó có thể quay lại chống ta và trở thành kẻ thù.
Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình thương bao la vô hạn, rốt cuộc có thể là những kẻ bội bạc, vô ơn.
Những người kề cận, thân thiết ta nhất, những người mà ta phó thác hạnh phúc và danh dự, có thể trở thành kẻ phản bội, phụ lòng tin yêu.
Tiền bạc mà ta có được rồi sẽ mất đi. Nó biến mất đúng lúc ta cần nó nhất.
Tiếng tăm ta xây đấp bấy lâu cũng có thể tiêu tan trong giây phút bởi một hành động điên rồ.
Những người phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt, có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta thất thế, sa cơ…
Duy chỉ có một con vật là bạn, vâng chỉ một, hoàn toàn không vụ lợi mà con người có thể có được trên thế gian đầy ích kỷ nầy, một con vật không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở với ta…đó là con chó của ta!
Con chó của ta luôn luôn ở cạnh bên ta khi thịnh vượng cũng như lúc cơ bần, khi khỏe mạnh cũng như lúc yếu đau.
Nó ngủ trên nền đất lạnh, dù gió đông thổi siết hay bão tuyết lấp vùi; miễn sao, nó được kề cận bên chủ là được.
Nó vẫn trìu mến hôn bàn tay ta, dù ta không còn thức ăn gì cho nó.
Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy mà ta lãnh chịu khi đương đầu với cuộc đời nhiều gay góc này.
Nó canh gác giấc ngủ cho ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta chỉ là một gã hành khất ăn xin.
Nó vẫn ở lại bên ta, khi tất cả bạn bè khác đã bỏ ta mà xa chạy cao bay.
Dù khi tán gia bại sản, thân bại danh liệt, ta vẫn còn có con chó trung thành. Tình thương yêu nó dành cho ta không dời đổi như vầng thái dương rực sáng trên bầu trời mênh mông.
Nếu chẳng may số phận nghiệt ngã, đá ta ra bên vĩa hè xã hội, không bạn bè, vô gia cư…thì con chó trung thành chỉ xin ta ân huệ…không gì khác hơn là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù.
Và khi trò đời dâu bể hạ màn, thần chết đến gõ cửa rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh thì khi ấy, khi tất cả bạn bè quyến thuộc đã phủi tay, quay mặt đi để tiếp tục sống cuộc đời của họ. Vâng, khi ấy, bên nắm mộ ta vẫn còn con chó nằm phủ phục, gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thật ngay cả khi ta đã qua đời…
                                                                 GEORGE GRAHAM VEST
CÂU CHUYỆN THỨ HAI (nguồn Diễn đàn Portland ngày 27/1/ 2011, Linh Phạm đưa tin.)
Trong nhiều ngày liền, chú chó Leao ở Brazil nằm phục trước mộ của chủ nhân và chú nhất định không chịu rời đi, dù đội cứu hộ đã đưa Leao đi cách xa nghĩa trang hàng chục cây số.
Theo trang Albu Express, chủ nhân của Leao là cô Cristina Maria Cesario Santana, bị thiệt mạng trong trận lụt ở Brazil cuối tuần trước. Cô được chôn cất ở nghĩa trang Teresopolis, thủ đô Rio de Janeiro, Brazil.
Chú chó Leao cũng chứng kiến cảnh chôn cất chủ nhân mình và từ đó, chú luôn nằm trước mộ của Cristina để canh gác.
Leao không ăn uống và cũng không đi đâu nửa bước trong suốt ba ngày liền.. Đội cứu hộ gần đó đã tìm cách đưa chú về một trại nuôi chó hoang. Nhưng, chỉ một tiếng sau, Leao lại trốn thoát và tìm về đúng ngôi mộ của Cristina. Phóng viên của nhiều tờ báo đưa tin về con chó trung thành này và bức ảnh Leao nằm phục trước mộ chủ đã được lan truyền trên mạng, nó đã làm xúc động con tim hàng triệu người trên thế giới.
Qua bài diễn văn tuyệt vời của Luật sư George Graham Vest: “TRIBUTE TO DOGS” (Vinh danh loài chó), tôi không biết cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức suy nghĩ như thế nào mà gọi tên Hồ Chí Minh là “TÊN CHÓ ĐẺ”? Cụ Chức đặt “Bác Hồ” ngang hàng với loài chó là cụ vô tình đã sỉ nhục và xúc phạm tới danh dự họ hàng nhà chó rồi đó…
Kẻ hậu bối xin kính chào cụ VIP KK Nguyễn văn Chức.

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

12.6.14

Hội nghị thành đô CSVN bán nước

 


 
Hội Nghị Thành Đô 1990 
Đảng CSVN Chính Thức Bán Nước Toàn Diện


 

1* Mở bài


Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau:

“Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn"phát triển tốt đẹp" và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với 'mâu thuẫn gia đình'.
Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh.
Ông Thanh nói:"Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi." (Phùng Quang Thanh)

Ông Thanh ví cuộc tranh chấp như mâu thuẩn trong một gia đình rất đúng. Về mâu thuẩn gia đình thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phái đoàn của đảng CSVN đã xin cho Việt Nam được làm một khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Bắc Kinh, và đã được “Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc “gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)

Mâu thuẩn trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là hiện thực, Tây Tạng và Tân Cương là một chứng minh cụ thể.

GS Carl Thayer cho biết: "Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể", do đó ta có thể nhận ra 'mâu thuẫn gia đình' nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu”. Đó là lời xác nhận của một cán bộ Việt Cộng cao cấp thuộc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao, đã tuyên bố sau Hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên năm 1990.

Bài nầy nêu những bằng chứng cụ thể để chứng minh hoạt động của hai bên Việt-Trung trong chương trình 30 năm về mọi mặt gọi là “đại cuộc”, và ngụy trang bằng cụm từ “16 chữ vàng”

Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đã cấy sinh tử phù và đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán ngụy hiện nay như cá nằm trên thớt, vô phương cục cựa.

Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành sự kiện vĩ đại đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 16 chữ vàng.

Tuyên bố của Phùng Quang Thanh thật đúng là lời thú tội kinh hoàng đối với người Việt trong nước.

Cho dù Wikileaks không tiết lộ, xem như không có biên bản đó, thì xuyên qua những hành động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước.

2* Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh
Từ trái qua phải. Lý Bằng, Giang Trạch Dân (nắm tay Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng (chắp tay).
Hàng trước từ trái sang: 1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư., (3) Phạm Văn Đồng,
(4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân),
5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), 6) Lý Bằng, 7) Đỗ Mười, 9) Hồng Hà (bìa phải).
Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tài liệu chi tiết như sau:

“Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh , Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ”.

“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

“Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)

3* Bí mật của chương trình 30 năm sát nhập Việt Nam vào Trung Cộng
Hội nghị tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nhưng nội dung CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là bí mật.

Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện”…

Những cụm từ nêu trên là cái nhãn hiệu che giấu chương trình 30 năm ở Thành Đô.

4* Sự ra đời của “16 chữ vàng”

4.1. Bước mở đầu

Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

Trung Cộng cho biết con đường hợp nhất của hai nước vô cùng thuận lợi vì đó là những đặc thù về địa lý tự nhiên, chế độ chính trị, văn hoá, xã hội và vận mệnh của hai dân tộc, của hai đảng được xem như một.

“Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”

Việt Trung tuy hai mà một, tương nhập là lẻ tất yếu và hợp tình, hợp lý.

4.2. Trung Cộng khởi tạo phương châm 16 chữ vàng
 
Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó.

Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

16 chữ vàng:

Láng giềng hữu nghị (mục lân hữu hảo), hợp tác toàn diện (Toàn diện hợp tác), ổn định lâu dài (Trường kỳ ổn định), hướng tới tương lai (Diện hướng vị lai).

Tháng 11 năm 2000 khi tân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang diện kiến thì Giang Trạch Dân nhắc đến và nhấn mạnh, phương châm 16 chữ vàng là cái khung chỉ đạo căn bản và nhất quán để Việt Nam phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Cũng giống như những người tiền nhiệm, Nông Đức Mạnh hạ quyết tâm thực hiện nội dung của 16 chữ vàng.

5* Thực hiện chương trình 30 năm trên cơ sở 16 chữ vàng


5.1. Nội dung chương trình

Chương trình 30 năm Thành Đô được các đời Tổng bí thư CSVN ký kết qua những bản tuyên bố chung về hợp tác toàn diện để Việt Nam hội đủ điều kiện sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

Hợp tác toàn diện về các mặt:

- Việc quản lý đảng, quản lý nhà nước thông qua những cuộc thăm viếng của các lãnh đạo cao cấp hai bên.

- Giao lưu về các mặt: chính trị, kinh tế thương mại, quân sự, văn hóa, hữu nghị nhân dân…từng bước nâng lên tầm cao mới sẵn sàng cho ý nguyện hội nhập theo tinh thần của hội nghị Thành Đô năm 1990.

5.2. Những bước cụ thể đã được thực hiện

5.2.1. Hợp tác toàn diện về việc quản lý đảng và quản lý nhà nước

Các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước hai bên liên tục có những cuộc viếng thăm quan trọng, không ngừng vun đắp quan hệ hợp tác toàn diện, từng bước nâng lên tầm cao mới để đáp ứng “nguyện vọng của nhân dân hai nước” là hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

1). Những lãnh đạo Trung Cộng sang thăm Việt Nam
Từ tháng 11 năm 1992 đến năm 2013 đã có 8 lãnh đạo cao cấp Trung Cộng đến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng CSVN.

Thủ tướng Lý Bằng (tháng 11 năm 1992). Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch Đàng (tháng 11, 1994 và tháng 3, 2002). Chủ tịch nước Giang Trạch Dân (tháng 6, 1996). Thủ tướng Chu Dung Cơ (tháng 11, 1996). Thủ tướng Ôn Gia Bảo (tháng 12, 1996).

Từ 31-10 đến 2-11-2005 Hồ Cẩm Đào kinh lý Việt Nam. Đó là chuyến viếng thăm cao cấp nhất, đầy đủ cương vị: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy TW, là bước ngoặt quan trọng thúc đẩy Việt Nam hội nhập vào Trung Quốc.

Sau đó là viếng thăm của Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Quốc Cường. Ngoài ra còn có nhiều lãnh đạo cấp thấp tới lui rộn rịp.

2). Về phía lãnh đạo Việt Nam sang chầu thiên triều

Tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà thực chất là hoàn tất chương trình 30 Thành Đô, sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Ngoài những bản tuyên bố chung, Việt Nam bị bắt buộc phải thành lập “Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Toàn Diện” để làm việc một cách cụ thể với Ủy ban Hợp tác Toàn diện của Trung Cộng.
Phiên họp lần thứ tư, phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp Tác Toàn Diện .
Vì sao phải thành lập ủy ban chỉ đạo hợp tác toàn diện? Một quốc gia độc lập chỉ cần xác định chính sách ngoại giao là đủ. Khi cần thì ký những hiệp ước, những thỏa thuận riêng biệt cho mỗi vấn đề.

5.2.2. Hợp tác toàn diện về kinh tế với Bắc Kinh

1). Thiết lập những nguyên tắc luật pháp căn bản về kinh tế

Năm 2005, trong số 44 hiệp định và thỏa thuận về kinh tế và thương mại, Việt Nam và Trung Cộng đã có 20 văn bản thỏa thuận làm căn bản pháp lý trong quan hệ giữa Việt Nam với các địa phương bên Trung Cộng. Đó là: Hiệp định thương mại, Hiệp định mua bán vùng biên giới, Hiệp định thành lập Ủy Ban Việt-Trung về kinh tế và thương mại.

Hiệp định giao thông đường sắt cao tốc và đường bộ, đường hàng không để lưu thông hàng hóa giữa địa phương với trung ương Bắc Kinh.

Từ ngày 1-1-2004 Việt Nam và Trung Cộng thực hiện bãi bỏ thuế xuất, nhập khẩu. Các cặp cửa khẩu hai bên đã được khai thông tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông tự do, mở ra một thời kỳ giao lưu hàng hóa không biên giới giữa hai bên.

2). Kinh tế Việt Nam đã lệ thuộc vào chính quyền trung ương Bắc Kinh
Hợp tác toàn diện về kinh tế thương mại.
a. Về đầu tư xây dựng

Nhà thầu Trung Cộng hầu như thắng thầu hầu hết những công trình quan trọng với loại thầu trọn gói EPC, còn gọi là “hợp đồng trọn gói” hay “hợp đồng chìa khoá trao tay”.

EPC là Engineering , Procurement and Construction. (Thiết kế, mua sắn, xây dựng). 

Hiện nay có 90% gói thầu EPC được giao cho Trung Cộng thực hiện, bao gồm những dự án lớn và quan trọng về năng lượng (nhà máy điện), kim loại, hoá chất…điều nầy cho biết Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng rồi.

b. Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

Thương lái Trung Cộng xâm nhập vào các vùng sâu, dùng thủ thuật giá, mua những thứ như cây tràm cỗ ở Quảng Ngãi, và những thứ không biết để làm gì, nhưng đã để lại những tác hại vô cùng to lớn. Đó là đánh phá thị trường VN.

Nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp giá rẻ, mà không được kiểm soát về chất lượng, vệ sinh, an toàn, thậm chí có những mặt hàng Trung Cộng mà dán nhãn sản xuất ở VN. Nhiều trường hợp dán cờ Trung Cộng trên các sản phẩm bày bán ở các siêu thị VN.

Hàng hóa rẻ tiền của Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, giết chết các công ty trung bình và nhỏ trong nước, đưa đến công nhân thất nghiệp.

c. Nhập siêu của Việt Nam chứng tỏ lệ thuộc kinh tế

Năm 2013, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa Trung Cộng (TC) 36tỷ 960 triệu USD, trong khi đó xuất khẩu chỉ có 13tỷ 960 triệu USD. Đó là nhập siêu. Sự chênh lệch về cán cân mậu dịch nầy khiến cho VN phụ thuộc vào TC.

TS Lê Đăng Doanh nêu nhận xét: “Mức nhập siêu to lớn nầy gây sức ép rất nặng khiến cho VN phụ thuộc vào TC: mất ngoại tệ, mất thị trường trong nước, công nhân mất việc. Khi người dân mua hàng hóa TC đồng nghĩa với việc trả lương cho công nhân nước nầy”.

5.2.3. Hợp tác toàn diện về văn hóa giáo dục

1). Việt Nam cam kết giáo dục nhân dân về 16 chữ vàng và 4 tốt

Ngày 21-2-2013, Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên BCT dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang Bắc Kinh. Hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác toàn diện cho giai đoạn 5 năm từ 2014-2019.

Nguyễn Thiện Nhân, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cam kết, với tư cách Chủ tịch Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ quốc VN (MT/TQ/VN), ông sẽ vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt 16 chữ vàng và 4 tốt để hoàn thành tốt thoả thuận của hai bên từ khi bình thường hóa năm 1990. Ông Nhân cho biết MT/TQ/VN sẽ triển khai chức năng và nhiệm vụ mới trong Hiến pháp 2013 là “giám sát phản biện xã hội” để tăng cường hiểu biết của nhân dân Việt Nam với nhân dân Trung Quốc.

Việt Nam sẽ thực hiện Cung Văn hoá Việt-Trung tại Hà Nội. Trong 15 năm, kể từ 2005 Việt Nam đã cử hơn 100 đoàn đại biểu văn hóa trên các lãnh vực: báo chí, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, truyền hình sang tham quan học hỏi và trình diễn ở Bắc Kinh.
2). Giáo dục thanh niên
Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam và Bí thư Thứ nhất TƯ Đoàn Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Đắc Vinh giao lưu với các đại biểu thanh niên hai nước.
Hữu nghị giữa hai đoàn thanh niên khu tự trị VN & Trung Quốc.
Theo một hiệp định, mỗi năm Trung Cộng cấp 130 suất học bổng cho sinh viên VN, đồng thời VN chỉ cấp 15 học bổng cho sinh viên Trung Cộng, có nghĩa là Bắc Kinh đào tạn cán bộ tương lai cho họ.

Việt Nam đưa những đoàn thanh niên sang thăm viếng, hợp tác hữu nghị với thanh niên sắc tộc của các khu tự trị. Nổi bật nhất là Liên hoan thanh niên VN-TQ được tổ chức vào ngày 26-11-2013, 3,000 thanh niên do Nguyễn Thiện Nhân hướng dẫn tham dự liên hoan. Trong diễn văn, ông Nhân cho biết: “Đây là dịp để thế hệ trẻ hai nước kết chặt quan hệ hai đảng, hai nước, không ngừng đơm hoa kết trái, vun đắp tình hữu nghị của hai dân tộc”.

Định hướng dư luận, Lập Viện Khổng Tử, nằm trong hợp tác văn hoá giáo dục cho thanh niên.

16 chữ vàng và 4 tốt là chiêu bài ngụy trang cho chương trình 30 năm để VN hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, nói thẳng ra là chương trình bán nước của đảng CSVN.

5.2.4. Trung Cộng di dân vào Việt Nam

Bọn Tàu khựa vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi luông tuồng như đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn họ đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng người Hoa cả.

Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxit Tây Nguyên đến Cà Mau, có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy quốc phòng, cơ xưởng…

Những người di dân tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

1). Khu phố Tàu Bình Dương
Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố (Chữ Tàu trên cổng vào).
Khu công nghệ cao                                 Khu thể thao.
Tờ Việt Báo tại hải ngoại có bài viết tựa đề: “Cờ Trung Quốc treo rợp Bình Dương: Dân Việt có nguy cơ mất đất”
Theo bài báo thì “Cờ Trung Cộng treo tưng bừng tại Bỉnh Dương để mừng Quốc Khánh lần thứ 90 của Trung Cộng bởi vì người Hoa đang cư ngụ đông đảo ở Phố Tàu nơi đây.

Một bài viết có tựa đề “Phố người Hoa, Rừng người Hoa, sòng bạc người Hoa,…và người Hoa” còn đưa ra quan ngại rằng “trong một tương lai không xa, con cháu người VN sẽ không còn được sống trên quê hương mình”.

Bài báo viết tiếp:

“Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẳng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt sẽ chỉ được sử dụng một phạm vi bao nhiêu bởi vì, biển, rừng, đô thị đều có bóng dáng của người Hoa.

Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó chen chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện 1,000 giường, một khu phức hợp: thể thao, hội nghị, tiệc cưới, một sân golf, các cửa hiệu thương mại và một khu giải trí.

Bọn Tàu khựa sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực VN không được vào kiểm tra cần thiết để nắm quyền kiểm soát khu vực.

Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy hỏi quyền lực quốc gia còn đâu nữa?

6* Những bản tuyên bố chung của lãnh đạo CSVN


6.1. Thỏa thuận 4 điểm của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh

Ngày 22-8-2006, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh thúc đẩy tăng cường quan hệ toàn diện và nhất trí với Hồ Cẩm Đào 4 khía cạnh:

Thứ nhất. Lãnh đạo cao cấp hai bên phải duy trì “quan hệ gần gũi” thông qua những cuộc viếng thăm cấp cao.

Thứ hai. Quan hệ kinh tế thương mại phải được nâng lên nấc thang cao mới, cụ thể hơn.

Thứ ba. Vấn đề lãnh thổ phải luôn luôn đạt được “sự đồng thuận”, bảo đảm ổn định lâu dài. (Nếu đồng thuận thì ổn định)

Thứ tư. Hai bên thống nhất về chính sách ngoại giao, quốc phòng để có nền tảng phát triển bền vững và hữu nghị. 

Năm 2009, tỉnh Hải Nam và Việt Nam nhất trí hợp tác toàn diện về chiến lược quân sự.

(Tại sao một quốc gia lại phải hợp tác với một tỉnh của quốc gia khác?) 

6.2. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào ngày 15-10-2011

1. Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước.

2. Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

3. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ (1990), khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.( Thôn tính tương lai)

6.3. Bản tuyên bố chung của Trương Tấn Sang

Trong bản tuyên bố chung ngày 21-6-2013 được ký bởi Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, có đoạn ghi như sau:

– Dân sự: Đào tạo nhân dân, văn hóa, giáo dục, y tế, sản xuất, chế biến. Khai thác lãnh thổ, lãnh hải, đất liền, biên giới, cửa khẩu, biển Đông, rừng núi, đầu tư, khoa học, công nghệ, kinh tế, thương mại, môi trường, nông nghiệp, ngư nghiệp, dầu khí, giao thông, vận tải và du lịch.

– Chính trị: Xây dựng nguồn máy đảng, và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tham vấn chính phủ, ban tuyên giáo, ban đối ngoại trung ương, ban lý luận, đào tạo hữu nghị quân, dân, cán chính cao cấp.

– Quân sự: Quân đội, quốc phòng, khí tài, an ninh, ngoại giao.

Kế hoạch toàn diện qui định mỗi bộ phận đặt đường dây nóng tự quản và kết nối quản trị Bắc Kinh. 

(Đường dây nóng tự quản với Bắc Kinh là nhận lịnh trực tiếp từ chính quyền trung ương ở Bắc Kinh)

Ngoài ra, đảng CS và nhà nước Việt Nam, ưu tiên để 4 tỉnh phía Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam được hưởng đặc quyền khai thác toàn diện trên 7 tỉnh biên giới của Việt Nam, như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Người Trung Quốc được hưởng qui chế "bất xâm phạm" từ khi có mặt tại Việt Nam để thi hành công tác khai thác toàn diện trên lưng người Việt Nam.

“Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các tỉnh, khu vực của hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, hợp tác toàn diện với 4 khu tự trị của Trung Quốc gồm có: Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam”.

Trước hết Trung Cộng muốn Việt Nam hội nhập với 4 khu tự trị để trở thành 5 khu tự trị gồm có: Mãn, Tạng, Hồi, Mông và khu tự trị mới là Việt Nam. Và cờ Trung Cộng trở thành 6 ngôi sao mà VN đã dùng để chào mừng Tập Cận Bình vừa qua.

Thực tế là chỉ có 3 tỉnh của Trung Cộng mà đòi hợp tác toàn diện với 7 tỉnh Việt Nam, tạo điều kiện dễ dàng và hợp pháp cho thương lái, nhân viên Trung Cộng được đi khắp mọi nơi để nắm tình hình các mặt, biết rõ địa hình địa vật, đường đi lối về, tài nguyên, khoáng sản, đặc sản để khi cần thì xử dụng.

Trên Facebook, nhà bình luận Trần Trung Đạo nêu nhận xét như sau: “Đọc bản tuyên bố chung mới thấy số phận chùm gởi của CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản 8 điểm mà có tổng cộng 29 lần “nhất trí”. 

7* Cộng Sản Việt Nam bị cấy sinh tử phù

Trung Cộng đang nắm trong tay những con bài tẩy bằng văn bản chính thức đã được các lãnh đạo CSVN ký và cam kết thi hành. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng chỉ là con bài thứ nhất mà thôi. Những lá bài khác như biên bản bí mật ở Thành Đô năm 1990 và những bản tuyên bố chung đã được ký kết như đã nêu trên.

Thiên la địa võng đã bày ra để khống chế và trừng trị Hán ngụy Việt Nam nếu phản chủ. Các vị trí chiến lược chủ yếu như rừng đầu nguồn, Lào, Campuchia, Tây Nguyên, hệ thống giao thông cao tốc xuyên Việt…và những sư đoàn của đạo quân thứ năm dưới lớp áo công nhân, thương nhân…khiến cho số phận của lãnh đạo CSVN thê thảm như con cá nằm trên tấm thớt của Trung Cộng.

Khi Tập Cận Bình niệm thần chú thì bộ tứ “hùng dũng sang trọng” vừa ôm đầu vừa gật đầu lia lịa.

8* Vì sao Trung Cộng không muốn đưa nội vụ ra tòa án quốc tế?

Ngày 2-6-2014 báo South China Morning Post tường thuật rằng ngày 1-6-2014 Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ yêu cầu toà án trọng tài quốc tế phân xử tranh chấp, nhưng nói đó là tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc.

Trước đó, Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết là VN đã chuẩn bị bằng chứng cho hồ sơ pháp lý nầy, nhưng mọi việc sẽ do Bộ Chính Trị quyết định.

Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ lại lên tiếng là kiện chẳng ăn thua gì.

Có thể dùng câu “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm” để biết bản chất của CSVN trong vấn đề nầy.

Vì sao Trung Cộng không muốn nội vụ được đưa ra toà án quốc tế?

Không phải TC sợ bị thua kiện, vì họ đã có khả năng vô hiệu hóa vụ kiện 100% bởi quyền phủ quyết ở HĐ/BA/LHQ, mà cũng không phải vì Trung Cộng sợ dư luận quốc tế, vì nếu sợ thì đã không làm ngang tàng như thế..

Điều mà Trung Cộng mong muốn là “những mâu thuẩn trong gia đình” phải để gia đình giải quyết. Tập quán Á Đông là nếu đưa chuyện nôi bộ gia đình ra ngoài thì chẳng khác gì “vạch áo cho người xem lưng”. Điều Trung Cộng muốn là Việt Nam phải là một trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc mà Nguyễn Văn Linh đã lặn lội từ Hà Nội đến Thành Đô để thỉnh cầu hồi năm 1990.

Đây là phép thử, xem CSVN có đủ can đảm để thoát ra đại gia đình các dân tộc TQ đó không?

Nếu quan sát kỹ những tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh và Trần Công Trục nêu trên, thì có thể đoán được lãnh đạo CSVN vẫn còn hèn nhát, vì không dám phản chủ, nên chỉ dám nói mà không dám làm. Hơn nữa Việt Cộng đã bị cấy sinh tử phù và niền chiếc vòng kim cô lên đầu rồi thì chẳng còn hành động can đảm nào nữa cả.

Hãy chờ xem!

9* Kết luận

Giả sử như Wikileaks không tiết lộ biên bản bí mật ở hội nghi Thành Đô năm 1990, hoặc xem như không có nó, thì những hành động của đảng CSVN cũng đã bị lên án là bán nước, hèn nhát vì đã đặt đất nước, dân tộc Việt Nam dưới tay bọn Trung Cộng. Sự thật hiển nhiên đó không thể vối cãi được.

Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng từ lâu rồi. Ông Vương Gia Thụy, Trưởng ban Đối ngoại Trung Cộng, đã nêu những bằng chứng cho thấy Việt Nam đã được sát nhập vào Trung Cộng, như sau: “Việt Nam và Trung Quốc đã hợp tác chiến lược toàn diện. Cơ chế xã hội giống hệt nhau. Con đường phát triển tương tự như một. Quan hệ hai nhà nước ổn định và cùng một mục đích phát triển chấn hưng sự nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc. Hãy đối chiếu với di chúc của vua Trần Nhân Tông thì thấy rõ ngay. Nhà vua di chúc: “Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhũ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau” (Vua Trần Nhân Tông)

“Các vua Hùng có công dựng nước. Đức Trần Hưng Đạo có công giữ nước để bác cháu ta tha hồ bán nước!”.
Trúc Giang

Minnesota ngày 4-6-2014
 
 


 















__._,_.___

Posted