12.5.14

Làm cách nào chứng tỏ chó có răng?


 
Làm cách nào chứng tỏ chó có răng?
Ngô Nhân Dụng
Ðảng Cộng sản Trung Hoa mang giàn khoan tới ngự giữa vùng biển nước ta, khi bị phản đối thì họ làm như không nghe, không hiểu; rồi chính họ lại la làng. Trong một cuộc nói chuyện ở cấp cao nhất, giữa các bộ trưởng ngoại giao; khi ông Phạm Bình Minh gọi điện thoại cho ông Dương Khiết Trì than phiền về việc công ty CNOOC chiếm ngự vùng biển Việt Nam, Dương Khiết Trì đã “kêu gọi phía Việt Nam ngừng quấy nhiễu các hoạt động của các công ty Trung quốc ở khu vực quần đảo Tây Sa,” theo bản tin Tân Hoa Xã. Người Việt Nam gọi đó là “Vừa cướp vừa la làng;” hoặc “Vừa đánh trống đánh trống vừa ăn cướp.”
Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa từ năm 1974, người Trung Hoa đặt tên là Tây Sa. Ông Dương Khiết Trì còn dạy dỗ ông Phạm Bình Minh rằng: “Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ Trung Quốc và không có tranh chấp ở đó.” Trong khi ông Dương Khiết Trì trách mắng người Việt Nam “quấy nhiễu” công việc làm ăn của công ty CNOOC thì Hoàn Cầu Thời Báo, một cơ quan ngôn luận của Cộng sản Trung Hoa lên tiếng đe dọa sẽ “dạy cho Việt Nam một bài học” nếu cản trở chuyện tìm kiếm dầu của CNOOC. Năm 1979, Trung Cộng đã “dạy cho Việt Nam một bài học” một lần rồi; sau khi ông Lê Duẩn dại dột theo Nga chống Tàu. Không những thế, Lê Duẩn còn dại dột sửa Hiến Pháp, hung hăng xác nhận ngay trong lời nói đầu rằng Trung Quốc (cùng với Pháp, Mỹ) là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Trên thế giới chưa có một quốc gia nào ngu ngốc đến mức kể tên các quốc gia thù nghịch công khai ngay trong bản Hiến Pháp như vậy.
Nhưng đám con cháu của ông Lê Duẩn bây giờ thì ngược lại, lúc nào cũng nhún nhường, nếu không phải là khúm núm khi đối diện với thiên triều. Trước cảnh vùng biển nước mình bị xâm phạm trắng trợn, ông Phạm Bình Minh vẫn còn xác định “...luôn thể hiện thiện chí, kiên trì giải quyết thỏa đáng bất đồng thông qua đàm phán, đối thoại và các biện pháp hòa bình khác theo đúng nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước...” Ðàm phán, đối thoại thế nào được khi người đối diện hoàn toàn không nghe mình nói gì cả? Trước cảnh chiến thuyền Trung Cộng kèm sát hai bên, đâm thẳng vào tàu cảnh sát biển của nước mình, ông Phạm Bình Minh vẫn còn nhấn mạnh đến những chữ “tin cậy, hợp tác;” chỉ dám than phiền rằng hành động cướp biển này “ảnh hưởng tiêu cực đến sự tin cậy chính trị và các mặt hợp tác giữa hai nước!” Trong lúc toàn dân phẫn nộ, hô nhau đi biểu tình, thì ông bộ trưởng ngoại giao chỉ dám nói đến mối lo “tổn thương tình cảm của người dân Việt Nam.” Còn công an của chế độ thì vẫn lo bắt giam Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh. Ðối với dân thì đàn áp, với ngoại bang thì run rẩy.
Thái độ nhún nhường, rụt rè như “gà phải cáo” này chắc chắn không có hiệu quả. Không những thế, còn làm cho đối phương khinh thường và làm tới nữa. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã chịu nhịn nhục như vậy từ năm 1992, khi Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Ðồng kéo nhau sang Thành Ðô xin quy phục, mong được tha thứ cho những lầm lỗi đã phạm thời Lê Duẩn.
Trong các vụ tranh chấp ở Biển Ðông, thay vì liên kết với các nước Ðông Nam Á khác để đối phó với Trung Cộng, Cộng sản Việt Nam lại hoàn toàn theo đường lối của Bắc Kinh là chỉ thương thuyết giữa hai nước mà thôi. Trong hai năm qua, Trung Cộng đã cướp những hòn đảo của Philippines và Malaysia; thay vì phản ứng tập thể cùng hai quốc gia đồng hoạn nạn, hoặc ít nhất lên tiếng bày tỏ mối quan tâm, chính quyền Hà Nội hoàn toàn im tiếng. Năm nay, khi Philippines làm đơn kiện “Ðường Chín Ðoạn” của Trung Quốc trước tòa án quốc tế, Manila yêu cầu hỗ trợ nhưng Hà Nội vẫn làm ngơ! Thái độ “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại” này đưa tới hậu quả bây giờ. Không một nước nào lên tiếng bênh vực nước ta khi bị Trung Cộng bắt nạt trắng trợn. Không những “bình chân như vại” khi các nước láng giềng bị Trung Cộng đè nén, chính quyền cộng sản còn cúi đầu nhịn nhục ngay cả khi ngư dân Việt mình bị người Trung Quốc cướp, phá. Thay vì rút đại sứ của mình về nước và gọi đại sứ Trung Quốc đến mắng vào mặt, chính quyền Hà Nội lại chỉ phản đối nhẹ nhàng ở cấp thấp nhất, làm như các hành động cướp bóc, xâm lấn đó chỉ là những xung đột địa phương. Chắc chắn giới lãnh đạo Bắc Kinh cũng như dân chúng Trung Hoa coi thái độ chịu nhịn nhục nhã này là dấu hiệu yếu ớt, yếu ớt và hèn hạ. Tự nhiên, họ phải tiếp tục “được đằng chân lân đằng đầu;” đưa tới cảnh CNOOC lộng hành.
Phải chấm dứt thái độ cúi đầu, ngậm miệng nhục nhã đó.
Hành động đầu tiên mà chính quyền Hà Nội có thể làm được là chấm dứt không tuân theo đường lối thương thuyết song phương, một chiến thuật chia rẽ các đối thủ của Bắc Kinh. Phải xin tòa án thế giới xét xử các vấn đề tranh chấp do công ty CNOOC mới gây ra. Dù Bắc Kinh không chịu ra tòa đối chất, nhưng hành động này sẽ đặt họ vào thế yếu. Nhất là khi cuộc tranh chấp diễn ra ở mức độ căng thẳng hơn, có thể đổ máu, thì trước dư luận thế giới Việt Nam sẽ ở thế mạnh hơn.
Ðưa đơn kiện chính quyền Bắc Kinh và công ty CNOOC là một cách phủ nhận lời nói của ông Dương Khiết Trì, khi ông ta nói rằng “không có tranh chấp” ở quần đảo Hoàng Sa. Ðây là một câu nói rất quan trọng, cần phải bác bỏ ngay, và bác bỏ một cách cương quyết; để đặt trên bàn một căn bản pháp lý có lợi cho nước mình.
Dương Khiết Trì nhấn mạnh rằng, “Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ Trung Quốc và không có tranh chấp ở đó,” vì một lý do: Luật biển quốc tế xác định khi một vùng biển đang ở trong tình trạng tranh chấp giữa nhiều quốc gia thì không nước nào được phép khoan dầu khí trong đó.
Bây giờ, người Việt Nam phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy và hiểu rằng quần đảo Hoàng Sa, bản đồ thế giới gọi là Paracels, đã là một vùng “có tranh chấp” từ năm 1974 đến nay. Cho nên, việc công ty CNOOC đem giàn khoan tới đó là bất hợp pháp.
Chứng minh Paracels đang nằm trong vòng tranh chấp không phải là việc khó. Trung Cộng đã đem chiến thuyền tới chiếm quần đảo này vào Tháng Giêng năm 1974. Các nhân chứng vẫn còn sống. Các tờ báo quốc tế loan tin này vẫn còn đầy trong các thư viện. Phim ảnh cũng sẵn đó, đầy trên các mạng, kể cả phim chiếu cảnh những tù binh Việt Nam Cộng Hòa được Trung Cộng trả về nước. Dù chính quyền Bắc Kinh không chịu ra trước tòa, Việt Nam vẫn có thể trình bày tất cả các bằng chứng trên trước tòa án và trước dư luận thế giới. Dù các trọng tài không xác định ngay rằng Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước ta, thì ít nhất cũng phải công nhận đây là một vùng biển đang có tranh chấp. Một khi đã xác định tính chất tranh chấp rồi, thì mọi hành động của CNOOC hay các công ty Trung Quốc khác ở vùng này đều bất hợp pháp.
Không những thế, trước tòa án và dư luận quốc tế, địa điểm mà CNOOC đang bố trí giàn khoan HD-981 trong “lô 143” ở vùng biển Paracels rõ ràng là bất hợp pháp, ngay cả khi giả thiết rằng quần đảo Paracels có thể thuộc quyền của Bắc Kinh. Vì “lô 143” này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 120 hải lý từ bờ biển tỉnh Quảng Ngãi của Việt Nam. Trong khi đó, giàn khoan HD-981 cách đảo Tri Tôn hơn 18 hải lý. Mà theo Quy ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UN Convention on the Law of the Sea) thì “hải phận” của các hòn đảo nhỏ không người ở như thế chỉ được kể là bao gồm vùng biển chung quanh cách hòn đảo 12 hải lý mà thôi. Nghĩa là dù Bắc Kinh cố bám lấy ý kiến “Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ Trung Quốc” thì việc khai thác HD-981 cũng bất hợp pháp, vì nó ở xa hòn đảo tới 18 hải lý.
Tóm lại, trước khi bàn tới những hành động khác nhằm bảo vệ vùng biển nước ta không cho các công ty Trung Quốc chiếm đoạt, chính quyền Hà Nội phải lập tức đưa vấn đề tranh chấp này ra trước tòa án trọng tài về luật biển. Không lo bị thiệt hại nào hết, mà chỉ có lợi thôi.
Nếu không nhân cơ hội này “làm cho vỡ nhẽ” về vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thì Trung Cộng sẽ cho CNOOC tiếp tục những hành động tương tự như giàn khoan HD-981, ở các lô khác. Họ cố ý tiến từng bước một, đặt cả thế giới trước những tình trạng đã rồi, mở rộng vùng hoạt động theo lối tầm ăn dâu. HD-981 mở đầu cho vết dầu loang, sẽ lan ra xa mãi. Lúc đó thì không còn gỡ được nữa.
Phạm Bình Minh đã dọa Dương Khiết Trì rằng: “Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng.”
Những lời nói suông đó đã được nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần rồi. Dương Khiết Trì bỏ ngoài tai, giống như nghe tiếng chó sủa mãi nhưng biết con chó này không có răng. Bây giờ là lúc đảng Cộng sản Việt Nam phải chứng tỏ dân Việt cũng có răng, dù mới chỉ đưa ra một hàm răng pháp lý.
Theo tin tức quốc tế thì giàn khoan dầu của CNOOC sẽ chỉ hoạt động cho tới Tháng Tám năm nay. Từ đây tới lúc đó, nếu kéo dài được cuộc tranh tụng về pháp lý thì có thể Trung Cộng sẽ có lý do để rút giàn khoan về mà không bị mất mặt. Vùng đáy biển ở Lô 143 đã được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thuê các công ty Mỹ thăm dò từ trước năm 1974. Trong lòng đất có bao nhiêu dầu lửa, hiện nay cũng chưa ai biết chắc. Ðối với công ty CNOOC, đây không phải là một món lợi chắc chắn. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, đây là vấn đề chủ quyền và thể diện không thể lùi bước được. Trong ba tháng sắp tới, việc tối thiểu mà chính quyền cộng sản ở Việt Nam có thể làm được là nộp đơn kiện Cộng sản Trung Quốc về vấn đề chủ quyền của tất cả quần đảo Hoàng Sa. Phải bắt đầu quốc tế hóa cuộc tranh chấp này. Từ năm 1974 đến nay đảng Cộng Sản đã hoàn toàn ngậm miệng khi Trung Cộng cướp Hoàng Sa. Chính vì thế Dương Thiết Trì mới ngang nhiên nói “không có tranh chấp.” Bây giờ là cơ hội cho đảng Cộng sản mở miệng, sửa chữa lỗi lầm nhục nhã 40 năm đó. Họ chịu trách nhiệm trước lịch sử về nỗi nhục “quốc sỉ” này.
 
 
__._,_.___






10.5.14

Sự Sống Còn Của Dân Tộc Việt

Sự Sng Còn Của Dân Tộc Việt

Ngọc Hà

Thắp nến cầu nguyện, Biểu tình phản đối, Kiến nghị và Xuống đường biểu dương lực lượng không còn phù hợp với sự sống còn của dân tộc trong lúc này vì bởi: Tầu Khoan Dầu Hải Dương 981 của Hán Tộc đã xâm nhập vào lãnh hải Việt Nam. Đây là điều thách thức và xỉ nhục cho Dân Tộc Việt.

Khởi đi từ năm 1958, tên tội đồ dân tộc Phạm Văn Đồng và bè lũ Hồ Chí Minh đã ký giấy dâng Biển Đảo cho Tầu cộng. Năm 1974 cộng sản Bắc Việt chúng làm ngơ và ủng hộ cho Hán Tộc xâm chiếm Hoàng Sa. Từ năm 1980, khi chú lùn Đặng Tiểu Bình còn nắm quyền, đã cho 4000 ngàn cán bộ tình báo, gài vàocác tầng lớp Lãnh Đạo Việt Nam. Sau trận chiến Tầu dạy cho CSVN một bài học “ăn cháo đá bát” vào năm 1979, thì nhà cầm quyền CS Việt Nam đã mở 28 cửa ngõ tại biên giới cho Tầu Cộng tự do đi vào VN,không cần thông hành hộ chiếu. Năm 1989 Trung Cộng xâm chiếm Trường Sa, CSVN không dám đến Liên Hiệp Quốc tại Thuỵ Sĩ tố cáo Trung cộng lấn chiếm vì “ 4 Tốt và 16 chữ vàng” hữu nghị Hán Việtcho Các Thái Thúcộng sản, ăn cơm Việt, nói tiếng Việt, ở nhà Việt nhưng Tâm Thần thờ Hán Tộc. “Theo Mỹ Mất Đảng, đành theo Tầu để mất nướcTừ đó, chúng âm thầm tuyên bố với dân trong nước và trước quốc hội CSVN bằng m từ:“không có gì quý bằng Độc Lập-Tự Do”!

Một quốc gia hùng mạnh là nhờ có 3 yếu tố: Lãnh Thổ (bao gồm lãnh hải) – Dân Tộc – Chính Quyền. Hiện tại chúng ta không có chính quyền do người dân được tự do bầuchọn lên. Một Nguyễn Phú Trọng hèn nhát, Một Trương Tấn Sang thiếu dũng khí, chưa đánh đã hàng: khi trực  diện Đồng chí X; Một Nguyến Tấn Dũng xảo quyệt, “tội Đồ Dân Tộc” bổ nhiệm tay chân bộ hạ toàn là bọn vô lại, có thành tích bất hảo để dễ sai khiến. Bọn lãnh đạo đã làm gì khi Dàn Khoan HD 981xâm phạm lãnh hải Việt Nam, ngay giữa Hoàng Sa và biển Sơn Trà Đà Nẵng, nơi Hồ Cm Đào ngồi tắm nắng trong khi Nguyễn Tấn Dũng Đăng Quan ghế Thủ Tướng lần đầu tiên?

Cứu nước là trách nhiệm của toàn dân Việt trong nước cũng như hải ngoại. Chúng ta phải một ng, thà chết chứ không thể câm lặng, lãnh cảm: Muốn hàng giặc phải “chém đầu 90 triệu dân trước.

Hỡi những anh phi công nước Việt, chẳng lẽ trong một ngàn phi công không ai có ng cảm, vì quê hương vị quốc vong thânng máy bay từ Đà Nẳng, lập đoàn “Việt Nam Thần Phong” như những anh hùng của người Nhật trong trận chiến trước đây. Khoảng cách chỉ có hơn 100 Hải Lý và chỉ cần 2 phi cơ, chúng ta có thể phá huỷ Dàn Khoan của tàu cộng như trở bàn tay. Đến lượt, chúng ta dạy cho giặc Phương Bắc một bài học để đời. Phải cảnh tỉnh thế giới về sự yêu chuộng Độc lập của người dân Việt. Đây không phải là khủng bốĐây là sự bảo tồn lãnh hải mà Luật Biển của Quốc Tế đã công nhận tại Hoa Kỳ (San Francisco) năm 1982 trong đó Trung Hoa CS đã ký tên đồng thuận.  

Hỡi những anh hùng quân đội nhân dân, lính biên phòng biển, chỉ cần một vài người Biệt hải ban đêm khi Tầu tiến gần giàn khoan, các anh nhẩy xuống biển, ôm ng B40, M72,  chờ đêm tối, vì nhân dân chiến đấu, trận chiếDu Kích sẽ dạy cho giặc bài học để đời….

Tại hải ngoại, thành lập một phái đoàn đại diện “Hội Đồng Việt Nam Hải Ngoại” vào Quốc Hội Hoa Kỳ yêu cầu yểm trợ cho dân tộc Việt, vì bởi Hoa Kỳ đã chuyển trục đưa60% lực lượng Hải Quân về Á Châu. Chúng ta nên thành lập một phái đoàn, túc trực tại New York đấu tranhsẽ tuần hành tại Trụ sở Liên Hiệp Quốc New York, cử đại diện vào các toà Đại Sứ Mã Lai, Phi Luật Tân, Nhật Bản,… kêu gọi tham gia, cùng đòi hỏi Trung Cộng phải từ bỏ tham vọng xâm chiếm biển đông và vi phạm luật biển. Đồng thời, chúng ta cũng nên ủng hộ Hoa Kỳ trong việc bảo trì an ninh khu vực và tự do lưu thông trên biển.

Đây là cơ hội cho Trương Tấn Sang đem thơ tay qua Hoa Kỳ, không phải bản Copy của Hồ Chí Minh. Đây là cơ hội cho những người yêu nước ai đó Hiên Ngang đứng lên từ quốc nội:Bao vây tòa Đại sứ và các tòa lãnh sự Trung Cộng tại Việt Nam, nội bất xuất, ngoại bất nhập cho đến khi Trung Cộng từ bỏ tham vọng điên cuồng. Tuyên Bố Việt Nam quyết tâm cùng thế giới tự do, thay đổi từ Độc Tài sang Tự DoTừ Cộng Sản thành Dân Chủ, Phú Cường.

Chúng ta không đơn độc vì Dàn Khoan HD 981 của Trung Cộng, sẽ không ai biết được nếu không có sự “Bí Mật”  gởi hình ảnh và tin này ra ngoàiCộng Sản Việt Nam và Trung Cộng đã cấu kết bưng bít vì bởi Dàn Khoan này không thể có từ ngày 5 tháng năm 2014. Sự xâm lấn lãnh hải Việt Nam trước Hội Nghị Thượng Đỉnh Á Châu tại Miến Điện, sẽ đưa các quốc gia Á Châu gần Hoa Kỳ và Tây Phương, hiểm hoạ Hán Hoá sẽ hợp thức hoá sự hiện diện Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương.

Sự sống còn của dân Việt, trách nhiệm bảo toàn non ng bờ cõi Việt Nam đang ở trong tay chúng ta.

8.5.14

Trung quốc đang chi phối Việt nam


Đọc bài này mới tin thật là Trung Cọng đã thống trị ta rồi,
                                    hết nghi vấn.   Đúng như TT. Ngô đình Diệm đã nói :
                          '' Nếu cọng sản Bắc Việt thắng thì Trung Quốc sẽ thống trị VN ''
 
 
                   Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết rõ :
          Trung Cọng đang chi phối nhà nước VN ta


              Bài này viêt hay quá ! Càng đọc càng tức

Chả lẽ mất độc lập tự chủ, lệ thuộc họ Bành?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh


 Sinh thời, Hồ chủ tịch từng nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, cũng hàm nghĩa “Độc lập, tự chủ”. Thế mà từ Hội nghị Thành Đô, một mặt thì giới cầm quyền TQ áp đặt, mặt khác do lãnh đạo phía ta tự ti, tự hạ nên mất dần độc lập tự chủ. Phía TQ yêu cầu ta không nhắc đến cuộc xâm lược của họ tháng 2/1979, loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, nhà ngoại giao sắc sảo, sớm cảnh giác với chủ nghĩa bành trướng bá quyền của TQ.
Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng ở nước ta, thường có vài ba ủy viên Bộ chính trị TQ liên tiếp sang thăm để biết dự kiến bố trí nhân sự Đại hội. Họ biểu thị yên tâm với đồng chí này nắm cương vị lãnh đạo, đồng chí kia không thân thiện với TQ… Thí dụ, trong Hội nghị có người nêu đưa đồng chí Phạm Bình Minh làm Bộ trưởng Ngoại giao, thì Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nói ngay: “TQ không đồng ý”.
 
TQ muốn vào khai thác boxit Tây Nguyên, vị trí chiến lược xung yếu của nước ta, dù chưa có ý kiến của tập thể Bộ chính trị, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã chấp nhận ngay. Họ mua rừng đầu nguồn biên giới, mua bãi biển Đà Nẵng, thuê dài hạn cảng Vũng Áng đều được.
 
Trong các lần họp cấp cao hai bên, phía TQ đề xuất nào là:
- Kết nghĩa giữa các tỉnh biên giới hai bên (ta được gì?).
- Tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư kinh doanh của hai nước (phía ta ai sang TQ mà kinh doanh?).
- Giúp nhau đào tạo cán bộ (Việt Nam lại đào tạo cán bộ cho TQ được ư? Hay là để ta gửi người sang học, để họ nhồi sọ?).
- Thường xuyên giao lưu cán bộ các cấp kể cả cán bộ cấp vụ, cấp cục (để họ dễ lung lạc, mua chuộc).
- Lập đường dây nóng giữa Bộ Ngoại giao và Bộ Nông nghiệp hai bên, xử lý nội bộ khi có va chạm (để ta không phản đối công khai xấu mặt họ trước thiên hạ khi họ lấn, cướp, gây hấn ở biển Đông).
- Phối hợp trong các Hội nghị đa phương (để ngăn ta tố cáo sai trái của họ trong các Hội nghị ấy).
- Lập khu liên hợp kinh tế biên giới (không cần thiết cho ta, họ có ý đồ lợi dụng).
- Hối thúc lập Viện Khổng Tử (chả cần gì đối với ta, chủ yếu là để họ có cơ sở tuyên truyền trực tiếp vào nhân dân ta và thực hiện ý đồ “xâm lược văn hóa”).
- Được trúng thầu các công trình ở nước ta dễ dàng.
v.v… và v.v…
Lãnh đạo phía ta đều chấp nhận.
 
Thế là những gì TQ muốn đều được.
 
Về phía ta, cho đến nay không kỷ niệm trận TQ xâm lược các tỉnh biên giới, tàn phá và giết hại dã man đồng bào ta kể cả cụ già, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai; không vinh danh các liệt sĩ hi sinh đánh trả 60 vạn quân TQ xâm lược, bảo vệ tổ quốc, cũng như không vinh danh 64 cán bộ, chiến sĩ ta hi sinh trong trận TQ đánh chiếm bãi đá Gạcma thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta.
 
Tháng 2/2011, tôi và một số đống chí đến đài liệt sĩ (đường Bắc Sơn) thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ nêu trên thì người ta cấm không cho vào khuôn viên đài liệt sĩ. Những người ngăn cản tưởng niệm sao lại vô cảm bạc bẽo với máu xương các liệt sĩ thế! Phải chăng trong họ không còn dòng máu Lạc Hồng?!
 
Khi TQ cắt cáp tàu Bình Minh và Viking II của ta khảo sát trong thềm lục địa nước mình, nhân dân ta phẫn nộ biểu tình phản đối quyết liệt. Lẽ ra TQ phải tự “hạ nhiệt” thì ta lại cử đặc phái viên sang TQ có vẻ cầu hòa. Chắc là TQ tỏ ra bực mình về những cuộc biểu tình chống họ nên sau khi đặc phái viên về là các cuộc biểu tình bị đàn áp.
 
Ta có đủ tư liệu lịch sử và pháp lý chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam sao không dám đưa vào sách giáo khoa cho con cháu biết. Sao không dám đưa ra LHQ để cho quốc tế biết, xác nhận là của Việt Nam, TQ tranh giành là không có cơ sở. TQ chỉ dựa vào cái “lưỡi bò” vô giá trị do chính quyền Quốc dân đảng tự vẽ, mưu đồ bá chiếm gần hết biển Đông trong đó có biển, đảo của nhiều nước Đông Nam Á. Lẽ ra ta phải đoàn kết đấu tranh tập thể với TQ chống lại mưu đồ “đàm phán song phương” của TQ nhằm chia rẽ các nước Đông Nam Á, thực hiện thủ đoạn “bẻ từng chiếc đũa” của họ. Gần đây, một số địa phương của nước ta mới tổ chức được một số cuộc triển lãm tư liệu và bản đồ chứng minh một cách thuyết phục Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, cũng mới tổ chức được vài cuộc hội thảo, chủ yếu là trong nước.
 
TQ lập huyện “Tam Sa”, liên tiếp bày lắm trò hòng khẳng định chủ quyền của họ, ta cũng chỉ phản đối lấy lệ vài lần.
 
Theo thông lệ, khi một công ty của quốc gia nào trúng thầu công trình gì đó ở một nước khác thì chỉ được đưa kỹ sư và công nhân kỹ thuật vào làm việc, còn lao động phổ thông thì phải thuê người của nước sở tại, nhưng các công ty TQ xây dựng các nhà máy điện và các công trình khác ở nước ta thì họ đưa ồ át lao động phổ thông của TQ vào không có giấy phép, vừa chiếm công ăn việc làm của lao động nước ta vừa thực hiện “di dân”, thành ra trong nước ta có thêm hàng vạn người TQ rất phức tạp cho ta, nhưng phía ta cứ để vậy không dám yêu cầu họ đưa số lao động vào trái phép về nước.
 
Tháng 10/2013, một người dân huyện Kỳ Anh thuộc Hà Tĩnh giấu tên nói “Dân Kỳ Anh thật sự đã đánh mất mình, số người TQ tuy mới đến Kỳ Anh sống chưa bao lâu, nhưng họ đã tổ chức thành đội ngũ, băng nhóm, các ông trùm khá dữ dằn, họ sẵn sàng xử bất kỳ người Việt Nam nào đụng đến phe nhóm của họ, hầu như họ đã nắm hoàn toàn quyên lực và thế lực ở Kỳ Anh, công an Kỳ Anh vẫn hoạt động nhưng hình như họ chẳng xem ra gì bởi thế lực và tiền bạc của họ quá mạnh, hiện tại huyện Kỳ Anh giống như một tiểu khu của người TQ…”.
Tại sao ta không dám xử lý triệt để, trục xuất họ đi?
 
Tỉnh Hải Nam ra quyết định cấm đánh cá ở biển Đông (thực chất là chính quyền TW của họ). Khi có người hỏi, Lương Thanh Nghị mới biểu thị phản đối. Lẽ ra Bộ Ngoại giao phải mời Đại sứ TQ đến nhận công hàm phản đối như họ đã làm với tôi khi tôi làm Đại sứ nước ta ở TQ, khi TQ phản đối ta việc gì đó.
 
Nhân dân Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng chuẩn bị sẵn sàng một đêm có nhiều tiết mục để kỷ niệm 40 năm TQ đánh chiếm Hoàng Sa thì đột ngột được chỉ thị phải dừng. Dư luận cho rằng do Tổng bí thư Tập Cận Bình có gọi điện qua đường “dây nóng” cho Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
 
Tình hình nêu trên cho thấy “Cái gì TQ muốn đều được, cái gì TQ không muốn thì phía ta không dám làm”.
 
Thế chẳng phải là mất độc lập tự chủ rồi sao?
 
Thêm nữa, trên thị trường ta thì hàng hóa TQ chiếm lĩnh hầu hết; các mặt hàng may mặc, giầy dép của ta xuất khẩu được khá thì đều phụ thuộc TQ về nguyên vật liệu; trong trao đổi hàng hóa giữa hai nước thì năm nào ta cũng bị TQ xuất siêu hàng hơn chục tỷ có khi đến 20 tỷ USD; các địa bàn xung yếu về quân sự của ta, người TQ đều đã có mặt. Đó cũng là tình hình lép vế của ta, còn TQ đã chiếm thế thượng phong.
 
Tôi không phản đối hữu nghị giữa hai nước láng giềng, nhưng hữu nghị thì phải từ cả hai phía. TQ luôn nhắc lại “kiên trì phương châm 16 chữ, 4 tốt, lấy đại cục (?) làm trọng để buộc ta vào cỗ xe của họ. Chỉ có phía ta thực hiện hữu nghị, phía TQ chỉ nói trên mồm, còn hành đồng thì không.
Đánh chiếm Hoàng Sa của ta năm 1974; huy động 60 vạn quân đánh 6 tỉnh biên giới; chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang của ta; giết 64 cán bộ chiến sĩ của ta để chiếm bãi đá Gạcma; lập huyện Tam Sa và liên tục hoành hành bá đạo, bạo ngược ở biển Đông; tập trận uy hiếp ta… Đó là TQ “hữu nghị” với ta ư?
 
Hòa bình thì ai chả muốn. Đấu tranh chính trị, ngoại giao và để cho nhân dân đấu tranh khi quyền lợi của tổ quốc bị xâm phạm đâu phải là gây chiến. Đừng quá sợ TQ đánh. Trong bối cảnh TQ đương nằm trong vòng cung bao vây của Mỹ từ Nhật Bản đến Australia và cô lập, nội bộ họ còn đầy mâu thuẫn và bất ổn, chưa phải lúc họ có thể tuy tiện gây chiến tranh. Nín nhịn quá mức (nếu không nói là nhẫn nhục) tưởng là khôn khéo để giữ được hòa bình, hòa bình mà mất độc lập tự chủ thì hòa bình có ý nghĩa gì! Khi TQ thấy rằng thời cơ thuận lợi cho họ, họ trở mặt đánh ta thì dù có van xin họ, cũng không giữ được hòa bình.
 
Hàng triệu cán bộ, chiến sĩ, đồng bào đã hi sinh, đổ biết bao xương máu mới có độc lập, tự chủ mà nay lại lệ thuộc phương Bắc, không còn độc lập tự chủ thì quá đau xót!
Các liệt sĩ có linh thiêng hẳn cũng phải thét lên tiêng thét phẫn uất.
 
Những ai làm mất độc lập tự chủ sẽ có tội với lịch sử.

Phải đấu tranh chống lệ thuộc, khôi phục độc lập, tự chủ!














__._,_.___

                                                

.

__,_._,___

4.5.14

Thư bà bộ trưởng y tế Viet Nam gởi thủ tướng Hàn Quốc



Thư bà bộ trưởng y tế Viet Nam
gởi thủ tướng Hàn Quốc

Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2014
Kính thưa ngài Thủ Tướng.

Trước hết tôi có lời thăm hỏi đến ngài, cùng chính phủ và toàn thể nhân dân Hàn Quốc. kính chúc quý vị trong guồng máy chính quyền, luôn luôn mạnh khỏe và giàu có.

Thưa ngài Thủ Tướng: Vừa qua tại quê hương của ngài, đã xảy ra một sự cố đáng tiếc, là vụ chìm phà, làm gần năm trăm người thiệt mạng, dẫn đến việc ngài xin từ chức. Thưa ngài tôi rất mong ngài xem lại vấn đề trước khi quá muộn, trong lúc bà Tổng Thống Park Geun-hye, chưa có ý kiến, ngài nên tức khắc rút đơn. Bởi cơ hội làm lớn, trèo cao, sống nhiều kiếp người chưa hẳn đã có được, có mà không biết giữ, người ta cười cho!

Thưa ngài, việc chìm phà số cán bộ chịu trách nhiệm, sắp dài hàng một trăm cây số, cũng chưa tới phiên ngài phải lo, lo mà tới mức từ chức, thật không chỉ riêng tôi, mà hàng triệu đảng viên, đảng CSVN đang cầm quyền, cũng không thể nào hiểu nổi? Chắc ở xứ ngài bị thiếu thông tin, nên không biết tại Việt Nam, hồi năm ngoái trước tình trạng tham nhũng thối nát be bét, từ trên xuống dưới, tham nhũng từa lưa, có người hỏi Thủ Tướng VN, “Ngài có nghĩ đến văn hóa từ chức không”? T T của tôi nở một nụ cười, ngang nhiên trả lời: “Tôi theo đảng từ hồi 12 tuổi (nghĩa là tôi không học hành gì mấy) và đảng phân công tui làm, chớ không xin xỏ, nên không nghĩ tới chuyện từ chức.”

Kính thưa ngài: Làm việc cho nhà nước phải lì lợm, và tuyệt đối đừng biết nhục, thì may ra mới ở cương vị được dài lâu, ngài cho rằng năm trăm mạng người là lớn lắm sao? Thời cải cách ruộng đất, chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi, từng ra lịnh giết hàng chục ngàn người, thì đã sao? Nếu xét thấy cần, chỉ nói vài lời xin lỗi, và khóc sơ sơ cũng được rồi, hà cớ gì từ chức! Trận Mậu Thân tại Huế, đảng chúng tôi giết trên năm ngàn người, thì đã sao? Mạng người dân của xứ ngài sao mà to tát lắm thế? Gướm, vàng ngọc không bằng! Cùng thời điểm chìm phà, bên Việt Nam bị dịch sởi, chết đâu có thua gì phà chìm, trước đó tiêm vắcxin, trẻ em chết như rạ, mà bản thân tôi không hề hấn gì cả. Kể ngài nghe một câu chuyện làm quà, cho vui: Hồi đầu năm nay, khi đến Quảng Bình công tác, nhằm lúc ở gần đấy có đám tang của một đứa bé, bị chết vì tiêm vắcxin, nhiều người kiến nghị tôi, nên đến thăm đám ma! Thiệt tình chán, tôi là Bộ Trưởng mà đi đám ma một đứa con nít, ngài nghe có được không? Tôi có“qưỡn” đâu, hơn nữa giày dép của tôi, toàn đồ hiệu cả ngàn đôla một đôi, lội cỡ chục mét vào đường đất, eo ơi mới nghĩ thôi, tôi đã sỡn da gà, thưa ngài.

Báo chí cắc cớ hỏi rằng: Trẻ em bị sởi chết quá nhiều, liệu tôi có từ chức không? Thật buồn cười, hễ chết thì chôn, hơi sức đâu từ chức, tôi trả lời rất ngắn gọn “chưa thể từ trong lúc này được”, nếu còn hỏi “vậy lúc nào từ được?” Tôi sẽ trả lời:

“Năm năm, mười năm, hai mươi năm, hoặc lâu hơn nữa, cho đến lúc hưu thì thôi.”

Không hiểu ở xứ ngài thì sao, chứ tại VN cán bộ muốn ngoi lên không phải dễ, phải thân thế, có vây, có cánh, tất nhiên tiền lo lót, không thể thiếu, không loại trừ trường hợp, phụ nữ có nhan sắc xinh đẹp, cũng tiến thân được. Xem như kế hoạch đầu tư, đầu tư đương nhiên thu lãi, cớ sao lại từ chức?

Tôi viết thư này, lo sợ ngài mất ghế thì ít, nhưng sự từ chức của ngài cũng làm tôi hơi bị chột dạ phần nào, do đó mong ngài sáng suốt xem lại. Nếu không, ngài sẽ hối hận và hối tiếc suốt đời, một khi đơn được duyệt xét.

Kính chào ngài.

Thân mến chào đoàn kết và thắng lợi.

Nguyễn Thị Kim Tiến
Bộ Trưởng Bộ Y Tế Việt Nam.

Ông Bút (viết hộ)

1.5.14

Những thảm cảnh sau ngày 30/4/1975



 
Những thảm cảnh sau ngày 30-4-1975

 
Trọng Đạt
 
Đoàn quân Cộng sản xâm lăng
 
Ngày 30-4-1975, một ngày kinh hoàng nhất đối với đa số người dân miền nam nước Việt, khi họ thấy xe tăng và bộ đội Cộng Sản tràn vào tiếp thu Sài Gòn, ai nấy mường tượng ra một tương lai đen tối mù mịt sẽ diễn ra tại mảnh đất này: đói khổ, thóc cao gạo kém, mất tự do, sưu cao thuế nặng, bị trả thù, lưu đầy…. Mặc dù cũng là người Việt Nam máu đỏ da vàng nhưng người Sài gòn chỉ biết đây là những người ngọai lai, xâm lược, họ biết rằng đất nước của mình đã bị đạo quân từ bên ngoài tới chiếm đóng.
 
Từ sau 1954, Việt Nam chia ra làm hai nước, một nước ở phía trên vĩ tuyến 17, hay trên sông Bến Hải và một nước ở dưới vĩ tuyến và dòng sông nhỏ này. Từ những năm đầu thập niên đã diễn ra cuộc chiến tranh giữa hai nước: miền Bắc được Cộng sản quốc tế trợ giúp vũ khí đạn dược đã mở cuộc chiến tranh dưới danh nghĩa “giải phóng” chiếm cho được vựa lúa miền Nam để cứu đói miền Bắc đã và đang thiếu thốn thực phẩm, lúa gạo trầm trọng. Cuộc chiến mở rộng bắt đầu từ 1964, 1965 khi miền Bắc công khai đưa quân vào miền Nam để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu béo bở này. Tình hình chiến sự trở nên tàn khốc trong khoảng 10 năm từ 1965 cho tới 1975, đó là cuộc chiến giữa một nước nghèo đói lạc hậu miền Bắc VN và một nước sung túc tiến bộ ở miền Nam VN. Miền Bắc có ưu thế ở chỗ họ được CS quốc tế viện trợ vũ khí dồi dào, vô hạn định và một dân số đông đúc, họ có cơ hội thuận tiện để đẩy hàng triệu thanh niên vào cuộc chiến.
 
Mặc dù bị thiệt hại nặng nề nhiều trăm ngàn người trong những năm giữa và cuối thập niên 60, nhưng miền Bắc vẫn tiếp tục cuộc phiêu lưu, họ có ưu thế của kẻ nghèo đói không sợ chết, dù tổn thất bao nhiêu cũng không đáng kể miễn là chiếm được vựa lúa miền Nam VN. Sau khi nướng hơn một triệu thanh niên họ đã đạt được mục tiêu, chinh phục được miền Nam sung túc.
 
Khi mới vào tiếp thu Sài gòn họ nói “Đế quốc Mỹ bại trận, dân tộc ta là kẻ chiến thắng”, miệng nói hòa giải dân tộc nhưng trên thực tế sau khi thắng trận họ đã thỏa thuê mãn nguyện tha hồ mà vơ vét, chiếm đoạt nhà cửa, ruộng đất, quí kim, hàng hóa… Cựu đảng viên Cộng Sản Bùi Tín đã gọi đây là một cuộc ăn cướp vĩ đại. Nhà cửa, tài sản của dân di tản đương nhiên thuộc về quân chiếm đóng dù họ còn thân nhân ruột thịt, tất cả những nhà lớn đều thuộc về quân chiếm đóng, chủ nhà phải dọn đi ở những căn nhà nhỏ lý do phó thường dân không được quyền ở những nhà rộng lớn, cao tầng.
 
Có người nói đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Tư bản và Cộng Sản, người cho đây là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lược, người nói đây là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, hai miền Nam Bắc đã được các siêu cường uỷ nhiệm, nhưng sự thực đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có tân tiến. Nước nghèo ra sức đánh thí mạng để cướp của cải vật chất bên kia, để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột… Nước nghèo đói chỉ biết lấy lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài, họ chủ trương chính quyền đẻ ra từ họng súng.
 
Khi chiếm được miền Nam, “cán bộ” Cộng Sản tươi cười với đồng bào nói nào hoà bình thống nhất rồi, nào hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh. Thế nhưng họ không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945, chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quí kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại….chở ra Bắc. Số vàng bạc quí kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết, họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác. Thực tế chứng tỏ tại châu Âu, nước Đức sau khi thống nhất, Đông Đức đã trở thành gánh nặng cho Tây Đức, họ gồm hàng tá khuyết điểm: lười biếng, gian trá, lạc hậu, ngu xuẩn… và tình hình Việt Nam cũng y hệt như thế, miền Bắc đã dựa hẳn vào miền Nam để sống.
 
 
Đánh tư sản, đuổi dân đi kinh tế mới
 
 
 
 
Chuẩn bị đi vào các trại tù “cải tạo”

 
Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần để lấy nhà cho cán bộ, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét cạn sạch túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học. Những người đi vượt biên dù thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức. Sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức, sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại họ. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong gạo sống qua ngày. Cán bộ cao cấp từ miền Bắc kéo nhau vào Nam chiếm nhà của kẻ bại trận, cán bộ lớn chiếm nhà lớn, cán bộ nhỏ chiếm nhà nhỏ rồi tha hồ mà vơ vét cho đầy túi tham.
Thấm thoắt đã 39 năm trôi qua, đời sống kinh tế miền Nam ngày nay cao hơn những năm thập niên 80, 90 rất nhiều nhờ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và nhờ các nước giầu Đài Loan, Hoa Kỳ, Tây Âu, Đại Hàn, Nhật…vào đầu tư cộng với tiền đô la của Việt kiều ở ngọai quốc gửi về dồi dào. Đời sống có khá hơn xưa nhưng cái hố chênh lệch giầu nghèo lại sâu gấp bội lần tình trạng xã hội trước 1975. Trong khi những bà mẹ nghèo khổ tay bế con, tay bán vé số thì những đảng viên quyền thế có cơ ngơi, nhà mặt đường, trong nhà lúc nào cũng có cả triệu đô la tiền mặt, mấy nghìn lượng vàng. Các quan to tỉnh ủy, ủy viên trung ương đảng đã thành phú gia địch quốc có khách sạn, nhà hàng, đất đai, cơ sở thương mại, sản xuất….tài sản của họ có thể lên tới hàng trăm triệu đô la hoặc hơn thế. Nhiều người khi mới vào Nam chỉ mang theo có một manh chiếu rách nay đã trở thành những triệu phú đô la, xe ngựa nghênh ngang.
 
Nay người nghèo tại các tỉnh đổ xô lên Sài gòn và các thành phố lớn làm công nhân, họ chen chúc nhau thuê phòng trọ, hàng chục người một phòng nhỏ xíu với mức lương thấp 100 đô la hàng tháng, sau khi trả tiền phòng, tiền ăn họ chẳng còn dư đồng nào, những người cùng khổ này làm lụng vất vả nhưng chỉ đủ bỏ vào mồm. Đời sống thành thị tương đối còn khá, tại miền quê người dân lam lũ vật lộn với cuộc sống đắt đỏ, một hiện tượng phổ thông tại các nước kém mở mang, người nghèo ngày càng khốn khổ, người giầu ngày càng giầu thêm.
 
Mặc dù mức sống đã được nâng cao nhưng gần đây Thủ tướng CSVN nhìn nhận Việt Nam vẫn là một nước nghèo, thật vậy lợi tức đầu người VN nay vào khỏang 1,000 đô la một năm, trên thực tế chỉ bằng một nửa, hoặc một phần ba của các nước Phi châu như Ai cập, Lybia, Tunisie… nếu so với các nước láng giềng tại Đông Nam Á thì VN còn thua xa hơn nữa.
 
 
Bắt học sinh xuống đường “bài trừ văn hóa phản động”
 
Một thanh niên bị bắt đeo bảng trước ngực và đi lòng vòng địa phương nơi cư trú, dưới sự giám sát của bộ đội cụ Hồ. Tội danh : Nhảy đầm. Sau đó còn phải thọ án 1 năm trong “trại cải tạo”.

“Tòa án nhân dân”

Nay người miền Bắc kéo vào Sài Gòn và các thành phố lớn tại miền Nam rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước… Họ là những cán bộ cao cấp và bà con thân thuộc được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền. Tại các cửa hàng lớn, các cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, đó là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Kẻ chiến thắng lấy đi tất cả, Winner takes it all, họ hưởng đủ tất cả lạc thú trên đời, biệt thự, xe hơi, rượu ngon, gái đẹp… không còn thiếu thứ gì.
 
Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, vơ vét, tập trung tài sản của nhân dân vào trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ giúp, đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo. Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột đành ngậm đắng nuốt cay, chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của đạo quân chiến thắng.
 
Đã một phần ba thế kỷ trôi qua, người miền Nam ngày nay dù là lớp người cũ hay lớp trẻ em sinh sau đẻ muộn vẫn nhìn chính quyền CS, nhìn người miền Bắc như đạo quân chiếm đóng, như bọn xâm lăng đã tước đọat tài sản, quyền sống của họ. Dù nói cùng một thứ tiếng, viết cùng một văn tự nhưng không hẳn phải là một quốc gia, thời xa xưa, Xuân thu, Chiến Quốc, thời Tam Quốc nước Tầu đã chia làm nhiều nước Tần, Sở, Yên, Ngô… và bây giờ Bắc Hàn, Nam Hàn cũng là hai quốc gia riêng biệt, châu Mỹ La Tinh cùng nói tiếng Tây Ban Nha, Trung Đông cùng nói tiêng Ả Rập nhưng đã chia làm mấy chục nước. Người miền Nam VN xa xưa không muốn thống nhất với miền Bắc cũng như Nam Hàn hiện nay không muốn thống nhất với Bắc Hàn lý do nước tân tiến sung túc không muốn mang cái gánh nặng lạc hậu trên vai.
 
Nay CS đưa ra luận điệu ru ngủ dân miền nam như: “hãy để Việt Nam Cộng Hòa lùi vào quá khứ, hãy quên đi lá cờ vàng, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù”; nhưng người miền Nam lớp già cũng như lớp trẻ vẫn tiếc nhớ đất nước của họ, tiếc những cái họ đã mất từ bao năm qua:

Tự do. Cái mất mát lớn nhất của người miền Nam phía dưới vĩ tuyến 17 là mất tự do, trước hết là tự do ngôn luận, thời xa xưa tại nước Việt Nam Cộng Hòa… báo chí được quyền chỉ trích sai trái của chính phủ, người dân được nói cái mình muốn nói, được biểu lộ sự phản kháng, biểu tình chống chính phủ, được thành lập đảng phái đối lập, được tự do hội họp. Người dân được quyền tự do tư tưởng, được đọc và viết điều mình muốn, sách báo không bị kiểm duyệt hoặc chỉ bị kiểm duyệt hạn chế, người dân được đọc sách báo nhập từ ngọai quốc trái với tình trạng ngày nay, sách báo hải ngọai gửi về bị vất vào thùng rác. Người dân VNCH được tự do cư trú, muốn ở đâu thì ở, muốn đi đâu thì đi nhưng nay họ phải chịu chỉ định cư trú, theo chế độ hộ khẩu, bị chính quyền địa phương giám sát, theo dõi nghiêm ngặt. Từ mấy chục năm nay quân chiếm đóng đã tước đọat hết mọi quyền tự do của người dân miền nam nước Việt.
 
Luật pháp. Người dân VNCH đã được luật pháp bảo vệ tài sản tính mạng, có tòa án, có luật sư bào chữa, người dân chỉ bị bắt giam tối đa 24 giờ đồng hồ nếu không có bằng cớ phạm pháp, nay họ có thể bị công an nhà nước bắt giam vì bất cứ lý do gì hoặc chỉ là tình nghi. Họ có thể bị giam giữ vô thời hạn mà không cần đưa ra tòa xét xử, phải có án, người dân có thể bị chính quyền, bị kẻ thống trị cướp đoạt đất đai tài sản mà không thưa kiện ai được. Sau 30-4-1975, trại tập trung, nhà giam mọc lên như nấm tại miền Nam, hàng trăm ngàn người bị lùa vào trai tù dưới danh nghĩa cải tạo mà không hề được xét xử, họ bị giam giữ lâu dài có người lên tới mười mấy năm trời. Sống trong xã hội áp dụng luật rừng hiện nay, người miền Nam ai cũng nơm nớp lo sợ, họ có thể bị bắt bất cứ lúc nào không có lý do, chỉ một sự tình nghi hoặc tư thù với cán bộ có thể bị giam giữ lâu dài.

Đạo đức. Người dân miền Nam nay tiếc nhớ xã hội có kỷ cương đạo lý của VNCH ngày xưa, trước 1975, miền nam là một xã hội có tổ chức nghiêm chỉnh, chịu ảnh hưởng sâu xa của giáo lý Khổng Mạnh, con người có nhân phẩm, gia đình và học đường giáo dục đạo đức luân lý cho con em để trở thành con người tốt của xã hội. Nay thì khác hẳn, xã hội đương thời sô bồ, băng hoại phản đạo đức luân lý, phim ảnh khiêu dâm đồi bại lan tràn, đĩ điếm, bia ôm, đầy rẫy cả thôn quê thành thị, con gái bị bán đi làm đĩ khắp nơi. Con người ngày nay chỉ biết có đồng tiền, lửa đảo, lưu manh trộm cướp, băng đảng lộng hành, trẻ nít chửi thề tục tĩu ngay tại học đường, tham nhũng hối lộ từ trên xuống dưới, có người nói giả thử chế độ CSVN sụp đổ, người ta phải mất ít nhất là ba thế hệ mới xây dựng được xã hội lành mạnh như xưa.
 
Tài sản. Nhiều người mất cơ mất nghiệp, nhiều người xưa là thương gia, đại phú bị quân chiếm đóng lấy nhà tịch thu tài sản đuổi đi vùng kinh tế mới rồi trốn về Sàigòn với tấm thân tàn ma dại. Nhiều người khá giả có nhà lớn hoặc nhà mặt đường đi vượt biên không thoát bị quân chiếm đóng lấy nhà nay nghèo khốn nghèo khổ tiếc nhớ thời oanh liệt xa xưa. Những người có tài sản làm việc cho chế độ cũ phải vào trại tập trung cũng bị chính quyền “mượn nhà” ở nay tiếc nhớ thủa vàng son của mình….
 
Giáo dục, Y tế – Khoảng 1980, trong một phiên họp nhân viên tại bệnh viên Vũng Tầu, một chị dược sĩ gốc ngoài Bắc vào đã phát biểu:
 
“Chế độ Ngụy mà chúng ta đánh đổ nó nhưng nó đào tạo các chuyên viên như kỹ sư bác sĩ giỏi hơn chúng ta”
 
Thật vậy nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 đã đào tạo các chuyên viên khoa học kỹ thuật tương đương với các nước tân tiến và đã được chính phủ Pháp công nhận có giá trị ngang hàng. Văn bằng trung học VNCH đã theo đúng chương trình của người Pháp, việc thi cử rất nghiêm chỉnh, văn bằng trung học, đại học cũng đã được coi ngang hàng với văn bằng bên Pháp, việc thi cử dưới trung học nhất là thời Đệ nhất cộng hòa thập niên 60 có phần còn khó khăn hơn ở ngọai quốc. Nay người gốc miền Nam vẫn tiếc nhớ một thời giáo dục vàng son của họ vì nền giáo dục hiện nay của quân chiếm đóng đã sản xuất ra một lô những văn bằng “lèo”, thạc sĩ, tiến sĩ nhiều như lá mùa thu, các quan to Thứ trưởng, Tỉnh ủy, huyện ủy đều có thể mua bằng tiến sĩ “ma”, thạc sĩ “lèo”, nạn bằng giả bằng ma tại VN ngày nay không còn gì xa lạ. Học sinh từ tiểu học lên trung học, đại học VNCH hồi xưa đều được học miễn phí, chỉ riêng bậc trung học có thêm trường tư thu học phí, ngày nay trẻ em thất học nhiều vì không có tiền đóng học phí. Trước 1975, nhà giầu hoặc những người có tiền khi ốm đau nặng đi bệnh viện tư, người nghèo đã có nhà thương thí của chính phủ lo. Nay lấy danh nghĩa xã hội chủ nghĩa để mị dân, chính quyền CS chỉ biết thu thuế, không mảy may để tâm tới phúc lợi người dân, các bệnh viện ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi bệnh nhân phải có tiền, không có tiền thì chịu chết, đi học, chữa bệnh phải có tiền, cái gì cũng phải mất tiền.
 
Bình đẳng. Mặc dù có một số khuyết điểm nhưng VNCH trước đây tương đối là một xã hội công bình, tuy có nạn bè phái nhưng người có tài đức dù thân cô thế cô vẫn có cơ hội tiến thân điển hình là Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Xuất thân từ người con thông minh trong một gia đình nghèo tại miền quê, Bông đã phải làm lao động thêm để lo đèn sách, lớn lên anh ta xuất dương du học, làm bồi tầu, khuân vác cực nhọc rồi thành công vẻ vang, đậu tiến sĩ, thạc sĩ, làm tới chức Viện trưởng một Học viện lớn, nếu sống dưới chế độ CSVN hiện nay, tột đỉnh cuộc đời của ông ta chỉ có thể làm một thầy giáo làng quèn mà thôi.
 
Từ 1975 cho tới nay, sự học hành, công ăn việc làm chỉ con cái cán bộ, đảng viên hoặc những người từ miền Bắc vào mới được ưu tiên, con cháu các cựu quân nhân, viên chức chế độ cũ hoặc phó thường dân Nam bộ vẫn bị kỳ thị phân biệt đối xử nặng nề, chính quyền CS duyệt xét lý lịch đương đơn rất kỹ. Những công việc tốt, lương cao, béo bở hái ra tiền… chỉ dành cho các đảng viên hoặc họ hàng thân thuộc, những người từ miền Bắc vào Nam còn những việc xương xẩu, làm chỉ đủ bỏ vào mồm mới đến tay thành phần chế độ cũ hoặc phó thường dân Nam bộ.
Nay người dân phía dưới sông Bến Hải vẫn tiếc nhớ một thời vàng son của miền Nam nước việt nhưng cái thời ấy nay đã chết rồi, nó chỉ còn để lại một tiếng vang, vang bóng một thời. Quân chiếm đóng đã tàn nhẫn bế mạc cái thời huy hoàng ấy, mặc dù họ lớn tiếng kêu gọi xóa bỏ hận thù nhưng người miền Nam vẫn không thể quên những hành động trắng trợn của họ tại mảnh đất này.
 
Quân chiếm đóng có thực sự muốn xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hay đào sâu thêm cái hố sâu hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Người Việt Hải ngoại chúng ta “hòa hợp” với quân chiếm đóng, đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng quê hương hay là để củng cố thêm quyền lực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy cộng sản vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một.
 
Địa vị của quân chiếm đóng, của bọn thống trị vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng!
 
Trọng Đạt