16.5.13

MẤY LÁ BÀI MỚI CỦA MỸ Ở VIỆT NAM . ÐÃ ÐẾN THỜI CSVN SỤP ÐỖ

MẤY LÁ BÀI MỚI CỦA MỸ Ở VIỆT NAM


ÐÃ ÐẾN THỜI CSVN SỤP ÐỖ, MỸ TÍCH CỰC DẤN TỚI

HÀ NHÂN VĂN

Sau khi bộ Ngoại giao Hoa Kỳ long trọng trao giải thưởng "Phụ nữ dũng cảm" trên thế giới cho Tạ Phong Tần, Uncle Sam lật một lá bài nho nhỏ trên bàn, phe Thái thú Nguyễn Phú Trọng hụt hẫng, vô phương phản bác: Phó Đô đốc (3 sao), bộ Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ trong một hội nghị, tuyên bố tuần duyên Hoa Kỳ sẵn sàng giúp VN, bảo vệ ngư dân VN đánh cá xa bờ trong hải phận trên biển Đông. Tin này loan tải qua đài VOA và RFA, như điện giật, như sấm chớp loan nhanh khắp miền duyên hải VN với hơn 5 triệu ngư dân đang khốn khổ ở ngõ cụt xa bờ do các tàu hải giám TC bắn phá ngăn cản, đang bừng bừng sống dậy coi "ông Mỹ" như Thần biển cứu độ. Những lời đồn đại thêm hoa lá cành như trận gió Nồm thơm mùi sinh khí mới trên sinh lộ mới giữa biển cả: "Tàu Mỹ sắp tới bảo vệ ta, bà con ơi!" Một vị linh mục cao niên ở Qui Nhơn cho biết như thế.

Thì đúng rồi, VOA vừa loan tin tàu chiến Mỹ USS Freedom đã neo ở cảng Tân Gia Ba, sẵn sàng rồi đấy! Tàu chiến Mỹ lại vừa cập bến Tiên Sa. Cứ thế, một đồn 10, mười đồn 100! Nói với ngư dân và nông dân về tự do, dân chủ nhân quyền đâu hấp dẫn bằng "bát cơm đầy với khúc cá to!" Dân đảo Lý Sơn (Cù lao Ré) mở hội lễ tưng bừng tuần trước để biểu dương khí thế "bám biển". Ngoại trưởng Phạm Bình Minh cùng phái đoàn bay qua đảo tham dự, dân đảo hoan hô vang dội như bão tố, nhất là chàng Ngoại trưởng trẻ tuổi này, lớn tiếng đầy hào hùng nói mấy tiếng “Kẻ Thù của chúng ta”, dân Lý Sơn cuồng nhiệt vỗ tay! Tuy không nói đích danh kẻ thù ấy là ai nhưng ai ai cũng hân hoan hiểu rằng đó là Trung Cộng. Xưa (1990) cha Phạm Bình Minh (PBM) là NT Nguyễn Cơ Thạch gọi đích danh Bắc Kinh là giặc Bắc. Nay con PBM sẽ thế nào?
     
Khu trục hạm USS Chung-Hoon cập bến Tiên Sa

Một cái gai trước mắt Bắc Kinh. Cho đến nay, chàng trai trẻ "Mỹ du" này vẫn bị Bắc Kinh chặn không cho vào bộ CT-ĐCSVN.

Nên lưu ý, bộ Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ (The Coast Guard) trực thuộc bộ Giao thông (DOT), kinh nghiệm báo chí cho biết, tàu phá mìn "The Cutter" của Tuần duyên đen nơi đâu là báo trước biến cố lớn sẽ xảy ra như chiến tranh vùng Vịnh, Iraq, A Phú Hãn hoặc mang một tín hiệu báo cho đối thủ biết "Hoa Kỳ đang có mặt, đừng có xớ rớ" (American is here!).

Năm 2012, tàu Tuần duyên "The Cutter" đến Phi Luật Tân, neo ở bờ biển Palawan. Nay, chỉ cần một Đô đốc tuần duyên Mỹ bắn tiếng, sẽ giúp ngư dân VN đánh bắt cá xa bờ được an toàn. Đại sứ David Shear ở Hà Nội đã lượm được trên 5 triệu phiếu của ngư dân Việt giơ cao tay "American Number One", không kể hàng triệu người liên hệ đến ngư nghiệp. Đây là vấn đề nhân đạo, vị Đô đốc tuần duyên thuộc bộ giao thông bắn tiếng mà không phạm luật. Phe Thái thú đầy tớ Bắc Kinh ở Hà Nội có dám từ chối đề nghị này không? Nếu từ chối thì ngư dân miền Trung sẽ đào mả ông bà cha mẹ chúng đổ xuống sông biển. Đây là một trong mấy chiến thắng của Mỹ "bất chiến tự nhiên thành" ở VN sau 38 năm VNCH sụp đổ.


Con cháu “Bác” hân hoan chào đón “Ðế quốc Mỹ” trở lại.

KHI HOA KỲ CÔNG NHẬN HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM

John Kerry, Ngoại trưởng Mỹ đã khác một Kerry phản chiến trước đây, khác Kerry Nghị sĩ liên tục bảo trợ cho VNCS gần 20 năm. Ngồi vào ghế ngoại trưởng, Kerry phải theo định hướng của Uncle Sam với 2 mục tiêu quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu mà thế kỷ 21 được mô tả là thế kỷ Á châu và bây giờ thêm lục địa Phi châu: 1. Trở lại Á châu TBD như quí độc giả đã rõ. 2. Cùng với đồng minh Anh, Pháp và Đức, tranh thủ Phi châu, dầu hỏa, tài nguyên nông dân và quặng mỏ.

Hơn 20 năm qua, lợi dụng Mỹ và Tây Âu bỏ ngỏ Phi châu, Mỹ bị lôi kéo rồi chìm đắm vào 3 cuộc chiến vùng Vịnh, Iraq và A Phú Hãn, không kể cuộc chiến chống khủng bố, tốn kém khủng khiếp, Bắc Kinh được dịp thơ thới tung cánh rồng Đỏ bay về 10 phương 9 hướng với đại chiến lược Go Out, Phi châu là chính yếu.

Năm 2001, TQ chi 70% vốn liếng cho dầu khí. Nay thì TQ khựng lại (2013), do lối làm ăn quốc tế không thành thật, lắt léo, quá tham lam, thiếu kinh nghiệm (xem: "China's Go-Out strategy". Oil magazine, Dec, 2012, pp. 40-42).

TQ đã mất Lybia, đang gặp khó khăn ở Nam Sudan và kể cả Angola và Algeria ... Đó là lý do một mất một còn, Bắc Kinh phải lao xuống Biển Đông và nhoài qua liên minh với Putin Nga

Sô. Nếu không có Mỹ OK thì Mao - Chu không dám liều lĩnh đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH năm 1974. Không đoàn khu trục, vùng I CT (ở Đà Nẵng) đã bị chặn không cho cất cánh tấn công hạm đội TC tiến chiếm Hoàng Sa, dù vị Chuẩn tướng Tư lệnh nôn nóng trong cánh chim sắc cho quân xâm lăng TC biết tay không quân VNCH (đó là lý do vị Chuẩn tướng Tư lệnh quá uất hận, định cư ở Montreal, Canada mà không vào Mỹ, ông đã mang mối hận lòng cho đến khi qua đời).

Với máu Đại Hán xâm lược, quá hung hăng nên Bắc Kinh phạm vào sai lầm nghiêm trọng mà Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đã tránh được để tiến hành chiến lược vết dầu loang: Không thách đố Mỹ, hòa hoãn với Nhật để phát triển "Đại dương Nam tiến" sau khi được Nixon - Kissinger bật đèn xanh cho chiếm Hoàng Sa của VN để làm một chốt chiến lược chống Liên Xô ở Biển Đông. Hồ Cẩm Đào quá yếu, chỉ là một đại thư lại để cho các ông Tướng chủ động tung hoành, ngang ngược tiến nhanh xuống Biển Đông, lợi dụng Mỹ bị cầm chân ở A Phú Hãn và Trung Đông, coi Biển Đông là ao nhà của TQ, chiếm diện tích 80% Biển Đông! VN đặt tên là Lưỡi Bò. Uncle Sam và cử tri Mỹ chọn huyền ngọc Barack Obama, thật là một viễn kiến tuyệt vời, trao cho Obama mài quê cha là Kenya, với sứ mệnh trở lại Phi châu, một Phi châu đầy triển vọng đang lớn dậy, tạp chí Oil tôi đã dẫn, dành hẳn một số chủ đề Africa Today - A continent at a crossroads (Một lục địa ở ngã đường giao lưu), (no 19, p. 3-4). Một Phi châu mà TQ tràn ngập cách đây trên 20 năm, nay thì đang lúng túng to, Âu Mỹ "nhường cho phần nào hay phần ấy". Một Phi châu vốn chống Mỹ do thù ghét Do Thái thì nay một Phi châu tự hào về Barack Obama, một thần tượng của giới trẻ và trung niên Phi châu. Người Tàu Hoa Lục càng ngày càng trở nên xa lạ (distant from) ở giữa lòng xã hội Phi châu (với thịt heo và lạp xưởng là điều đáng kinh tởm đối với Hồi giáo Phi châu).

Cũng như thế, khi ngồi vào ghế Ngoại trưởng, bà Hillary Clinton chọn chàng tuổi trẻ Mỹ gốc Việt làm Tổng lãnh sự Mỹ tại Sàigòn! Và nay ông Ngoại John Kerry mới sử dụng lá bài tuyệt vời này, cử Tổng lãnh sự Lê Thành Ân, cầm đầu phái đoàn Hoa Kỳ ra Đà Nẵng thăm huyện đảo Hoàng Sa ngày 23-4-2013 vừa qua gồm các Tham vụ chính trị, văn hóa, thương mại và viên chức của tòa Đại sứ. Tại sao không cử Đại sứ hay Phó Đại sứ và Đệ Nhất tham vụ làm trưởng phái đoàn? Đây là một "đòn" chính trị tuyệt vời. Như tôi đã biết, ngoại giao nước nào cũng có riêng một ngành lãnh sự trách nhiệm về kiều dân, di trú, chiếu khán, giữ quyen lãnh sự tài phán và luật lệ lãnh sự, còn Đại sứ thuộc về ngoại giao và chính trị. Bộ Ngoại giao Mỹ muốn tách ngoại giao và chính trị cũng như Đại sứ Mỹ ra khỏi vấn đề Hoàng Sa vốn rất nhạy cảm trong quan hệ ngoại giao Hoa-Mỹ. Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng kiêm Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa chào đón phái đoàn. Theo tin RFA, "Đoàn công tác Tổng lãnh sự bày tỏ lập trường ủng hộ giải pháp hòa bình đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông, khẳng định sự cần thiết hợp tác để bảo đảm chủ quyền, bảo đảm hòa bình, an ninh an toàn và tự do hàng hải (...) trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về Luật biển 1982". Đây chỉ là ngôn ngữ ngoại giao vẫn thường được Hoa Kỳ nhắc đi nhắc lại. Nói tranh chấp là không đúng, TC đã đơn phương xâm lược.

Từ trong lịch sử, luật biển và công pháp quốc tế, Hoàng Sa - Trường Sa mặc nhiên và đương nhiên thuộc chủ quyền của nước VN. Cho đến nay chưa một nước nào trong cộng đồng thế giới, công nhận đường Lưỡi Bò Biển Đông là của Trung Cộng. Dù Hun Sen, Cao Miên là tên tay sai của Bắc Kinh vẫn im lặng. Đó là lý do tại sao Trung Cộng chỉ to mồm lấp liếm, không dám đối mặt với luật pháp quốc tế. Hầu hết giới sử gia và luật gia quốc tế, xác minh rằng, nếu đưa Hoàng Sa-Trường Sa ra trước tòa án quốc tế, TC sẽ thua to. Với Bắc Kinh, họ bất chấp! Lịch sử TQ họ còn viết lại cho phù hợp với bá quyền bánh trướng của Đại Hán Mao huống chi. Đấy, Phi đưa TQ ra trước tòa án quốc tế và LHQ đã chấp đơn, thụ lý, Bắc Kinh còn lờ hẳn đi, huống chi VN đang trong tay Bắc Kinh. Hẳn bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rõ như thế. Và, Hoa Kỳ lên tiếng ủng

hộ Phi. Sự kiện Tổng lãnh sự Mỹ và phái đoàn Mỹ đến thăm UBND huyện đảo Hoàng Sa, đây là vấn đề ảo nhưng ảo mà là thật. Báo chí Đảng và nhà nước TC phản ứng điên cuồng, lên án Mỹ là kẻ "phá hoại hòa bình" ở Á Đông. Chính trị quốc tế bao giờ chẳng là ảo nhưng không hư ảo trong vấn đề Biển Đông và VN. Những đội tàu hải giám TC và cả hạm đội Nam Hải của TC rong ruổi đi lại đầy thách đố ở Biển Đông, Bắc Kinh đã cống hiến cho HP Obama một cơ may hiếm có, vượt qua mặt các giải Nobel Hòa Bình của Obama lại thuyết phục được lưỡng đảng và công luận Mỹ đem sức mạnh Liên quân Mỹ trở lại Á châu, TBD trong đó có ĐNA như thời 1954 với Tổ chức Liên phòng ĐNA SEATO để "be bờ đắp đập" ngăn làn sóng đỏ Bắc phương. Nay lại nhờ có TC công khai thách đố, Uncle Sam được cả Nhật, Nam Hàn và ĐNA đón chào công kênh làm Anh Hai bảo trợ, vượt cả vai trò "sponsor" mà là "protégé" của ĐNA, không cần tổ chức tốn hàng tỷ hàng tỷ dollars như SEATO năm 1954-55...

Năm 2012 một "siêu" SEATO đã thành hình, một SEATO ảo! Không cần Cam Ranh, không cần Chu Lai, không cần cả "đất địa giang sơn" MAC-V ở Tân Sơn Nhất như xưa. Tàu chiến võ trang hiện đại nhất USS Freedom đã neo ở cảng Tân Gia Ba, hoạt động trong vòng 6 tháng, luân phiên, không cần doanh trại, sĩ quan và thủy thủ đoàn vẫn ở dưới tàu. Trước đây, từ thời SEATO ra đời, Hoa Kỳ phải thuê căn cứ Subic Bay và phi trường quân sự Clark Field (gần Manila) nay khỏi phải chi một xu, hạm đội Mỹ, kể cả hàng không mẫu hạm tự do neo ở Subic Bay mà lại không cần thường trú. Quốc hội Mỹ mừng vô tả, không cần mở hầu bao!

Tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn kẹt ở VN! Miên đã lọt vào tay TC nhưng không đáng kể, vẫn còn Thái Lan khống chế, kể cả Lào. Với tình báo Mỹ và Đài Loan, hơn ai hết, Ngũ giác đài và bộ NG Mỹ đã biết tỏ tường, kể cả ngỏ ngách nội bộ ĐCSVN hiện nay. Hoa Kỳ chưa thể tiến xa hơn. Nhân quyền tuy là vũ khí nhưng vậy vậy thôi! Đầu tư của Mỹ ở VN lớn lao như thế nhưng vẫn là ảo, qua các con số, đã giải ngân được bao nhiêu đâu! Trong khi Bắc Kinh bằng mọi giá phải nắm chặt VNCS. Hơn ai hết, tình báo Đài Loan biết rõ thực lực khủng khiếp của TC ở VN hiện nay. Thái thú bản xứ Nguyễn Phú Trọng chỉ là mặt nổi, còn nhiều đà cản khác rất mạnh của TC trong ĐCSVN từ cơ sở tỉnh và huyện, 90% các gói thầu vừa và nhỏ ở VN trong tay tư bản TC thì đủ hiểu sức mạnh của Bắc Kinh như thế nào! Âu - Mỹ thấm thía vào đâu! Mặc dầu sức mạnh mềm (soft power) của Mỹ càng ngày càng lan rộng và bám sâu ở VN từ xã hội đời thường đến trí thức tầng cao, nhưng vẫn chưa tạo thành lực tập trung để đẩy CSVN sụp đổ!

KHÔNG THOÁT KHỎI SỤP ĐỔ!

Qua 2 biến cố, tôi gọi là biến cố vì tác động rất mạnh trong lòng dân VN: 1. Mỹ bắn tiếng lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ sẽ giúp và che chở cho ngư dân VN đánh bắt cá xa bờ! Ngư dân Việt ham quá đi chứ lại! Điều bắn tiếng này không phải là hứa suông, rất dễ thực hiện. Quốc hội và công luận Mỹ chấp nhận ngay vì không đối đầu với TC, đã sẵn cảng TGB và Subic Bay, năm ba tàu tuần duyên từ Hawaii điều qua "du dương" ở vùng biển VN lợi nhiều mặt, nhân đạo mà! Các tàu hải giám TC, kể cả hạm đội Nam Hải có dám đương đầu với tàu tuần duyên của Mỹ không? Xin thưa không, ngoại trừ lên cơn điên. Đại tướng Lương Quang Liệt, khi là Bộ trưởng Bộ quốc phòng TC qua thăm Ngũ giác đài và các căn cứ quân sự Mỹ (2011), tướng Liệt đã công khai thừa nhận trong một cuộc họp báo ở Hoa Thịnh Đốn rằng "Khoa học kỹ thuật quân sự của Mỹ bỏ xa TQ", và "TQ phải cần 20 năm nữa mới đuổi kịp Hoa Kỳ". Không điên dại gì hải quân TC đối đầu thách đố với hạm đội Mỹ. Giả dụ, tàu chiến TC nổ súng trước, cầm chắc sẽ bị hạm đội Mỹ tiêu diệt ngay, kể cả tàu ngầm của TC. Bắc Kinh không dại gì tự phá vỡ huyền thoại hải dương Nam tiến của hải quân TC.

Hoa Kỳ tuần qua lật thêm một lá bài trên bàn họp của lãnh đạo VNCS: VN có thể mua máy bay tuần thám biển của Mỹ loại P-3C Orion do hãng Lockheed Martin chế tạo đang đậu đầy ở

sân bay Honolulu, Hawaii. VN dự trù sẽ mua 6 cái. Ngũ giác đài bắn tiếng VN có thể mua và Hoa Kỳ bán mà không vi phạm luật hiện hành cấm "bán vũ khí cho một nước CS hay thù địch loại sát thương". Máy bay Orion không võ trang bất cứ loại vũ khí sát thương nào. Máy bay thám thính Orion có thể khám phá tàu ngầm địch dưới lòng sâu đại dương. Trước đây, Liên Xô chế tạo loại thám thính tương đương IL-38, TU 142 nhưng sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga không còn chế tạo loại này nữa, vả lại đã quá lạc hậu so với Orion. Do vậy, chỉ còn Orion của Lockheed. Với Orion, VN có thể kiểm soát trên mặt biển và dưới lòng sâu toàn hải phận VN. Không ham sao được! Nếu Bạch ốc OK, Orion có thể trao cho VN ngay. Ngon lành quá! Phe đầy tớ Bắc Kinh ở Hà Nội chủ trương "chiến lược" tách lãnh thổ đất liền ra khỏi biển đảo VN. Vẫn tiếp tục "16 chữ vàng, 4 tốt với TQ, còn "vấn đề Biển Đông" trao cho bộ ngoại giao xử lý, đã có sẵn bổn cũ sao lại, khi cần phát ngôn viên cứ đem ra đọc thuộc lòng bài bản tố cáo TQ "vi phạm chủ quyền biển VN". Thế thôi.

Đột nhiên, huyện Lý Sơn, trung tâm nghề cá từ Hoàng Sa đến Trường Sa, mở hội lễ cờ quạt kèn trống rước kiệu tưng bừng, bộ trưởng ngoại giao PBM bay ra đảo dự lễ hội khai mạc. Tuần sau chủ tịch nước Trương Tấn Sang lại bay qua đảo hứa hẹn tùm lum. Ít nhất đây là một dấu chỉ mới đối đầu với phe đầy tớ Bắc Kinh. Miến Điện hay Mayanmar đang là mẫu mực lý tưởng đang là mẫu mực lý tưởng đối với doanh gia và kinh tế gia VN. Tạp chí Foreign Affairs, số mới nhất, lần thứ 2, hoan hỷ giới thiệu nước Myanmar mới, đã dứt bỏ TC, chế độ quân phiệt đã cáo chung. Myanmar tưng bừng sống lại, phục hồi toàn diện nhờ phép lạ dân chủ, tự do (báo đã dẫn, The remarkable transformation continue, May-June 2013- với 11 trang báo hình ảnh rực rỡ). Miến Điện đổi mới và dân chủ hóa đang phổ biến rộng rãi ở VN. Điều mà Nguyễn Tấn Dũng hồ hởi về Mayanmar mới: đó là, đảng cầm quyền vẫn tồn tại, quốc hội Miến Điện vẫn trong tay đảng cầm quyền. CSVN không thoát khỏi sự sụp đổ, không còn bao xa! Nó phải sụp đổ, một qui luật tất yếu. Miến Điện là mô hình.

HÀ NHÂN VĂN (28/4/2013)

13.5.13

XÃ HỘI VN NGÀY NAY:

XÃ HỘI VN NGÀY NAY:




CHỈ TAY 5 NGÓN





Ông...........nhà  thơ hiện sống tại Hà Nội) tả cái xã hội - chính trị VN bằng thành ngữ dân gian:

Đảng ... chỉ tay,

Quốc hội ... giơ tay,

Mặt trận ... vỗ tay,

Chính phủ ... ra tay,

Doanh nghiệp nhà nước ... ngửa tay,

Công ty hữu hạn ... ngoặc tay,

Công an ... còng tay,

Tội phạm ... bắt tay,

Báo chí ... chùn tay,

Trí thức ... phẩy tay,

Đồng đội ... cụt tay,

Quan chức ... đầy tay,

Dân ... trắng tay.









12.5.13

Giải Pháp Khả Thi Giải Trừ Cộng Sản Việt Nam: Chọn Đường Sống thay thế cho Ngõ Cụt và Hẻm Chết



CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-QUÂN SỰ, TÀI LIỆU ĐẶC BIỆTGiải Pháp Khả Thi Giải Trừ Cộng Sản Việt Nam: Chọn Đường Sống thay thế cho Ngõ Cụt và Hẻm Chết

Lưu Nguyễn Đạt, TS, LS

May 11, 2013




                                            


“Giải pháp” là phương pháp hay cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể, nan giải, cần thiết. Vấn đề cần giải quyết ở đây là bằng cách nào Giải Trừ Chế độ Cộng Sản Việt Nam?



“Giải pháp khả thi” không phải là phương cách giải quyết tức khắc, một cách dễ dàng, nhanh chóng, mà thực sự là chia tách những khó khăn của vấn đề, nhằm thoát khỏi bế tắc, và cuối cùng đưa ra một số giải đáp đúng, hợp lý, có thể thực hiện được, trong những hoàn cảnh thuận tiện, thích nghi nhất.



Vậy mục tiêu của giải pháp ở đây là nhằm giải trừ Cộng Sản Việt Nam [CSVN], chính là trong nước nơi sinh sống của gần 90 triệu người dân, phụ là tại hải ngoại, đối với các cơ sở cộng sản ngoại vi, nằm vùng. Thời gian giải trừ là ngay bây giờ và cho tới khi đạt tới kết quả “khả chấp”, khi đa số người dân vùng lên chống đối, tẩy chay, ly khai hay lật đổ chính quyền; khi cấp lãnh đạo và đoàn ngũ CSVN tan rã, mất tư cách và khả năng quản trị đất nước, mất uy tín quốc gia.



Muốn thực hiện “giải pháp giải trừ CSVN”, chúng ta hãy so sánh và nhận định về hai hoàn cảnh: 3 triệu người dân gốc Việt tỵ nạn cộng sản tại Hải ngoại và số còn lại của 90 triệu người dân Việt Nam, nạn nhân CSVN trong nước.



I. Trường Hợp của 3 Triệu Người Dân gốc Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Đang Sinh Sống Trên Thế Giới Tự Do



1. Ý Thức Môi Trường Tai Ương, Triệt Hại của chế độ CSVN



Người Việt Nam yêu chuộng dân chủ tự do, thuộc thành phần Quốc gia, đã biết rõ mặt thật của chế độ cộng sản ngay những năm 1945, 1949, 1954, rồi 1975, khi người cộng sản lần lượt lộ rõ những thủ đoạn cướp nước, cướp quyền, đầy đoạ, giết chóc, hành hạ dân chúng mà họ từng nhờ vả, dụ dỗ, như hứa hẹn “cải cách ruộng đất” Miền Bắc; như giải phóng Miền Nam với chiêu bài “độc lập, tự do, hạnh phúc, ấm no” … tất cả đều là giả tạo, lừa lọc, triệt hại.



Người Việt Nam yêu chuộng dân chủ tự do đều biết rõ họ không thể sống còn trong môi trường tai ương quỷ tạo của chế độ cộng sản.



2. Giải Pháp Khả Thi: ly khai CSVN



Những người Việt Nam thoát khỏi Miền Bắc năm 1954, rồi thoát khỏi Miền Nam năm 1975 và những năm tiếp theo là những nạn nhân đầu tiên [còn sống sót] của chế độ CSVN. Những nạn nhân lịch sử này đã ra đi, dù phải từ bỏ của cải, gia tộc, làng xã, quê hương; dù phải hy sinh lấy tính mạng; dù phải đương đầu với mọi khó khăn, nguy khốn.



Đa số những người tỵ nạn cộng sản ra khỏi nước đều là những người có tâm chí vững vàng, có đủ can đảm hay tuyệt vọng khi đối đầu với mọi nguy nan để cứu thoát lấy mình, gia đình và bạn bè.



3. Mục Đích của những cuộc di cư vào Nam và những đợt tỵ nạn CS trên thế giới



Lý do chính khiến người Việt Nam quyết định bỏ chế độ CS di cư vào Nam [1954] và tỵ nạn [từ 1975] nơi đất khách quê người là mong muốn và hy vọng sau khi thoát khỏi địa ngục cộng sản họ sẽ có “giải pháp khả thi” sinh sống công bằng, tử tế tại những đất hứa nhân đạo và được tiếp đón trong cảnh an hoà, sung túc, tự do, hạnh phúc.



Nếu không có niềm tin sắt đá đó, người di cư 1954 và người tỵ nạn từ 1975 không đủ can đảm đương đầu với những cuộc phiêu lưu đổi đời như vậy. Sự hứa hẹn khả thi của một tương lai tốt đẹp, có thật tại Miền Nam [sau 1954] và tại các nước tự do [sau 1975] là “phần đối ước” của giải pháp ly khai CSVN vậy.



4. Phương Tiện & Giúp Đỡ



Cuộc di cư 1954 và di tản tỵ nạn cộng sản từ 1975 đã đạt được những kết quả khả quan, tốt đẹp, đôi khi phi thường, là nhờ vào những chương trình cứu trợ quốc tế và sự hảo tâm của các hiệp hội và cá nhân bảo lãnh, giữa người với người, đồng bào ruột thịt cũng có.



II. Trường Hợp của gần 90 triệu người dân Việt Nam, nạn nhân CSVN-Xã Hội Mafia trong nước



1. Ra Khỏi Tâm Cảnh Âm Thầm, Dè Dặt, Vô Cảm





Người dân trong nước ngày nay trước hết cần ý thức rõ cuộc sống của mình là tăm tối, thiệt thòi, hà tì, nguy nan, dù vài nơi trong “nhà tù lớn” này có những tụ tập phồn thịnh, vinh quang, phè phỡn giả tạo, sẵn sàng tự nổ, sẳn sàng phá sản.



Ý thức rõ nhu cầu giải thoát thì mới có “giải pháp khả thi” ra khỏi tai ách CSVN. Còn nếu tiếp tực vô cảm, thì phải đợi có cơ hội bị xúc động mạnh hơn, bị vi phạm táo bạo lây lan nhiều hơn.



Vấn đề vô cảm đôi khi chỉ vì người dân trong nước bị bịt mắt, bịt tai, bịt miệng. “Giải pháp khả thi” là giúp người dân trong nước được lĩnh hội thêm phương tiện nghe ngóng, truyền thông. Họ cần được báo động, đề cao cảnh giác, thức tỉnh bằng trí não, bằng tâm thức. Đoàn kết và khởi nghĩa, đi chung con đường tiến bộ đôi khi bắt đầu từ việc “ra khỏi” thái độ dè dặt, đố kỵ, cô lập của chính mình. Nếu không dang tay hay khởi bước tìm kiếm đường lối giải thoát, vượt khỏi nơi sa lầy, nguy biến thì làm sao níu nổi bàn tay tiếp cận đang chờ đợi kết nối vươn lên.



2. Ý thức Tai Ương Quốc Nạn Nội Xâm gốc Cộng Sản Mafia Quốc Tế





Người dân trong nước ngày nay cần ý thức rõ mọi phá hại về mặt xã hội, kinh tế, văn hoá, giáo dục, tư tưởng, sáng tạo; mọi hủy hoại nhân cách, môi sinh thiên nhiên, đất đai, sông ngòi bị ô nhiễm, hồ biển bị thất thủ, mất vào tay Hán tặc, đều phát xuất từ ý thức hệ cộng sản quốc tế, lâu nay tiếm quyền trong nước, qua những thủ đoạn mánh mung tham lam, bán nước hại dân của các lãnh tụ và guồng máy CSVN, cũ kỹ, lỗi thời.





Ý thức tệ đoan, tai ương phát xuất từ đâu mới thực sự có giải pháp khả thi gạt bỏ nguy tai đúng chỗ. Ngày hôm nay, chế độ CSVN đó dù tái chế, tái hô hấp tới mức nào vẫn chỉ đủ mánh mung tự lột xác và hiện hình dưới nhãn hiệu hổ lốn CSVN-Xã Hội Mafia-Tư Bản Đỏ hay Độc Đảng Đại gia Tướng Cướp Ngụy CS.



Nạn ngoại xâm bằng vũ lực, vơ vét tài sản, quyền lợi của Hán cộng chỉ là hiện tượng “lở loét ngoài da” hay những dị ứng ngoại lai lúc lộ liễu trắng trợn, lúc lập lờ thâm độc — mua chuộc, giao kèo mật – giữa các lực lượng cộng sản mafia quốc tế với nhau. Nên chống Tàu là phải dẹp CSVN-Xã Hội Mafia đỏ trước tiên, hay cùng một lúc, vì cần phải dẹp kẻ nội tuyến chủ mưu tội ác, kẻ đồng loã, tòng phạm cướp nước, bán nước. Chính CSVN-Xã Hội Mafia đỏ mới là quốc nạn nội xâm, nội thù, sẵn sàng và liên tục bán ranh, bán đảo cho Hán cộng và ngấm ngầm cho phép đồng chí vĩ đại này thong dong ảo tưởng “nô lệ hoá” cả ĐNÁ.



Do đó, mọi phong trào dâng cờ cộng sản xuống đường “chống Tàu, đòi đảo” tại Hà Nội, tại Sài gòn, hay những mưu toan “trung lập” trên mạng lưới quốc tế, với chủ trương “tạm quên nội thù” để đoàn kết “chống ngoại xâm trước đã” là hoàn toàn mắc mưu CSVN-Xã Hội Mafia đỏ khi thâm tâm họ chỉ muốn xì hơi an toàn, đem hoả mù đánh lạc hướng tranh đấu của người dân trong và ngoài nước, hầu còn cơ hội vơ vét cuối triều phong kiến đỏ.



Tái cơ cấu đảng phiệt, thay đổi hiến pháp giả tạo, xuống đường với màu cờ máu, lên mạng kiến nghị nhì nhằng là hoả mù lạc hướng, là lầm lẫn, nếu không muốn nói là giúp đỡ, hỗ trợ, toa nhập với âm mưu CSVN-Xã Hội Mafia đỏ kéo dài mạch sống giả mạo của băng đảng này vậy.



3. Giải Pháp Khả Thi: Kết lực Vết Dầu Loang Khai trừ CSVN-Xã Hội Mafia đỏ



Người dân nạn nhân CSVN-Xã Hội Mafia đỏ trong nước cần phải có can đảm, liều lĩnh chấp nhận “điều trị” mới ra khỏi cảnh nguy nan, chữa khỏi căn bệnh hiểm nghèo. Can đảm nằm ở đâu? Đó là cái quyết định có lúc tuyệt đỉnh, cái hy sinh vô thường, chẳng đặng đừng trong sự lựa chọn giữa cái chết và hy vọng sống, giữa cái đau đớn di căn và hành động đột nhập của mũi kim chích thuốc, của con dao mổ xẻ vứt bỏ ung nhọt xã hội đỏ nay di căn thành xã hội đen.



Ở các nhà thương hay nơi điều trị, nạn nhân thường nghe lời căn dạn, vừa thực tế, vừa vỗ về: “no pain, no gain” [Không đau, không cực, thì chả được gì]. Nạn nhân CSVN-Xã Hội Mafia đỏ chắc cũng phải thu nhận phương ngôn đó như một giao ước sòng phẳng, khả thi, khả chấp: giải trừ cộng-sản-mafia-hại-dân-bán-nước mới có dân-chủ-tự-do-nhân-bản.



Khả thi vì nạn nhân của chế độ CSVN-Xã Hội Mafia đỏ ngày nay cần tạm coi mình là những “người tỵ nạn” tại chỗ, những “thuyền nhân” trên bộ, những người bỏ phiếu bằng đấu tranh, nên cũng phải hy sinh, cực khổ, liều mạng…ngay trên quê hương xứ sở mình để tự giải thoát, như những người tỵ nạn cộng sản trước đây của những năm 1954, 1975. Chỉ cần vài triệu người Việt Nam trong nước, nếu dõng dạc đứng sang một bên của lẽ phải, của sự thật, con thuyền xã hội chủ nghĩa nát mọt sẽ chênh vênh ngả theo người biểu tình chân chính, khi những người dân đó biết “nổi dậy” với tư cách công dân Việt Nam, với luận điệu và yêu sách của dân, đòi hỏi quyền tự quyết của Dân Tộc Việt. Một cách rõ ràng và quyết liệt.



Vậy cái cao đẹp khả chấp là ở chỗ người dân trong nước biết tụ tập, có đủ can đảm dù tuyệt vọng, có đủ chí khí quyết liệt đứng lên thách đố nguy nan, bão tố, để thu thập lại quyền sống, những quyền nhân bản, nhân sinh bất khả tước đoạt của mình, của người hàng xóm, của đồng bào mình lâu nay bị lũ đầu nậu CSVN-Xã Hội Mafia đỏ cầm cố, tước đoạt, tịch thu trái phép, trái với công bằng, đạo đức con người.



4. Mục Đích và Đối Ước của Công Cuộc Khởi Nghĩa Khai Trừ CSVN-Xã Hội Mafia: Sinh Khí Mới và Phúc Lợi Nhân Bản



Lý do chính khiến người dân trong nước dám liều lĩnh, có đủ can đảm khởi nghĩa khai trừ chế độ cộng sản-xã hội Mafia đỏ là vì:



họ mong muốn và hy vọng sau khi lật đổ chế độ cộng sản-xã hội Mafia đỏ, họ sẽ khơi mào một sinh khí mới, một cuộc sống công bằng, tử tế, an hoà, sung túc, tự do, hạnh phúc ngay tại Việt Nam, mà không cần bỏ xứ ra đi như những người Tỵ Nạn CS năm xưa.

họ may mắn hơn người Tỵ Nạn CS trước kia vì sẽ không bị thiệt mạng cả trăm ngàn người bởi bão tố, hải tặc, đói khát, thất lạc. Họ sẽ không nhục nhã chờ đợi trước khi hội nhập đất hứa.

họ sẽ tạo dựng một tương lai tốt đẹp, có thật ngay trong nước mình, mà không cần xuất khẩu lao động; không cần bán thân cho ngoại bang; không cần lép vế, sợ hãi ngoại tặc.

Cuộc nổi dậy như vậy chỉ là Kết Lực Vết Dầu Loang giữa những người dân hội đủ ý thức cần thiết về quyền sống, quyền sở hữu những gì của minh, thuộc về mình, từ vật chất tới tinh thần, từ tự do tới an sinh, từ phẩm giá tới khả năng xây dựng, sáng tạo chân chính. Giản dị như vậy. Nhưng phải hành động, phải dấn thân vào thực trạng, chấp nhận khó khăn, gian nan lúc ban đầu, lúc thi hành. “Vạn sự khởi đầu nan”, thế thôi. Nhưng đôi khi cái khó lại tạo ra cái khôn chăng? Vì chí khí vượt thoát bế tắc, nguy nan có liên đới mật thiết với nghị lực hoá giải thân phận tối tăm, thiệt thòi của chính mình, của dân tộc mình.





Vậy đối ước khả thi — cái phần thưởng tinh thần, chính trị, văn hoá, tình cảm cao quý — của cuộc khởi nghĩa khai trừ CSVN-Xã Hội Mafia đỏ là lập tức tạo dựng lại trên quê hương xứ sở, trong làng ấp, gia đình, cá nhân, tất cả những gì cao đẹp, quý báu nhất của dân tộc mà chế độ cộng sản đã tước đoạt gần 70 năm nay.



Người dân Việt Nam ngày hôm nay nên hãnh diện với niềm tin tưởng đó. Đừng để người “ngụy- cộng” và những kẻ phản bội dân tước đoạt hơi thở linh thiêng đó. Hãy trân trọng đảm nhận sứ mạng do chính mình giao phó vì quyền lợi của mình, của người thân kẻ thuộc, của đồng bào ruột thịt. Khi người dân Việt đạt được kiến thức nhân sinh “miễn nhiễm vi trùng Cộng Sản Mafia”.



Và đương nhiên, khi người dân đã thu hồi lại quyền dân tộc tự quyết, quyền tự do và tư hữu, đã chọn lựa xong một chính thể dân chủ hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân, thì đa số 90 triệu người Việt, trong và ngoài nước, sẽ ủng hộ, tiếp lực chính thể đó trong sứ mạng khai trừ ngoại xâm và mọi quốc nạn trực diện.



5. Phương Tiện Kết Sinh & Trợ Giúp



Trước phong trào dân tộc Việt Nam nổi dậy đòi quyền tự quyết và quyền sống đích thực, các lực lượng quốc tế bảo vệ nhân quyền, các quốc gia theo chính nghĩa dân chủ tự do ắt phải hậu thuẫn, giúp đỡ, can thiệp theo lẽ phải và công lý nhân bản mà công pháp toàn cầu đã quy định, đôn đốc.



Còn chúng ta, người Việt Tự do gốc tỵ nạn cộng sản đã từng được người xứ lạ cứu vớt, bảo lãnh, che chở, bây giờ sẽ làm gi trước dự tính giải thoát của đồng bào chúng ta trong nước vậy? Chúng ta có nỡ bỏ bê họ, khuyên răn họ nên yên thân, yên phận trong cảnh nô lệ vài ba thế hệ nữa? Để con cháu họ sống thiệt thòi, tăm tối vài chục năm nữa? Liệu chúng ta có thể ngoảnh mặt nhìn chỗ khác khi đồng bào chúng ta bị Nhà Nước Công An tiếp tục sách nhiễu, đánh đập, bỏ tù?



Vậy ngày hôm nay chúng ta phải làm gì đối với đồng bào của chúng ta đang lâm nạn, đang mong đợi sự bảo lãnh tinh thần, sự hứa hẹn chăm sóc, vỗ về, trợ lực kết sinh?



Chúng ta, người tỵ nạn may mắn năm xưa phải làm gì để giúp đỡ dân tộc còn bị quản thúc, thiều thốn, thiệt hại, tù tội đó?



Về mặt căn bản, chúng ta cần:



gìn giữ thân phận, tư cách và mục tiêu của người Việt Tự do gốc tỵ nạn cộng sản để làm gương mẫu, niềm tin vững chắc cho đồng bào chúng ta trong nước đang muốn thoát khỏi ách nô lệ, tai ương CSVN-Xã Hội Mafia;

minh thị, rõng rạc cho họ thấy nếu tay trái họ bỏ được nạn CS-Xã Hội Mafia thì tay phải họ sẽ nhận được một kiếp sống toàn vẹn, sứng đáng hơn, chứ không thể chỉ luộm thuộm tiếp nối một cõi sống tùy tiện, vô định, chẳng hơn gì.

Về mặt thực tiễn, chúng ta cần:



tìm cách cổ võ, tiếp sức kết lực với người tranh đấu cho dân chủ tự do và nhân quyền trong nước;

nỗ lực trợ giúp kiến thức, kỹ thuật, phương tiện cần thiết trong phong trào khởi nghĩa phục hồi dân chủ, tự do nhân bản trong nước;

kịp thời can thiệp với các tổ chức bảo trọng nhân quyền, đánh thức lương tri và lương tâm thế giới về những tệ đoan chính trị, xã hội đang hoành hành trong nước;

tránh tiếp tay kéo dài mạch sống của con bệnh CSVN-Xã Hội Mafia, hoặc vô ý góp phần hô hấp kinh tài, hoặc nhẹ dạ phản trác, tha hoá, chia rẽ, tự phá tại hải ngoại, dưới ảnh hưởng thủ đoạn nội tuyến như Nghị Quyết 36 của CSVN nhằm phá hoại căn cước và môi sinh người Việt Tỵ Nạn CS trên thế giới tự do.

Về đường lâu dài: đóng góp khai triển dân trí trong nước



Chúng ta nên hiệp lực thực hiện sớm những “Học Đường Mở”, phổ thông với những kho tài liệu chính xác, những thư viện thân thiện trên liên mạng tại hải ngoại và trong nước để cung cấp tin tức, kiến thức, nhằm trau dồi giáo dục quần chúng, mà chương trình học vụ gồm những câu hỏi, chất vấn; những nỗi thắc mắc, ao ước từ lòng dân.



Đặc biệt là những “Học Đường Mở” này toàn bộ bất vụ lợi, ai cũng ghi danh được, ai cũng là trò, ai cũng là thầy, miễn tự tin, tự trọng, luôn luôn hiếu học, sẵn sàng tìm hiểu sự thật và các giá trị cởi mở, tân tiến. “Học Đường Mở” này không cấp bằng giả và cũng không thu nhận những đối tượng phá hoại, giả dối, thông thái nửa mùa, bất xứng, bất luân.



Vậy giải pháp khả thi giải trừ ách Cộng Sản Việt Nam là



[a] Ra Khỏi Tâm Cảnh Âm Thầm, Dè Dặt, Vô Cảm;



[b] Ý thức Quốc nạn CSVN Nội Xâm thuộc gốc cộng sản quốc tế; nay di căn thành Xã Hội Mafia đỏ;



[c] tìm mọi cách thoát khỏi bế tắc, Quốc nạn CSVN-Xã Hội Mafia bằng Kết lực Vết Dầu Loang



[d] và cuối cùng duy trì khả năng vượt Cộng, bằng Kiến thức Nhân sinh quân bình, tự giác khi miễn nhiễm vi trùng cộng sản và tội ác mafia đỏ.





ý thức hệ Cộng Sản-Xã Hội Mafia





Thay Lời Tạm Kết



Cốt lõi của Nghị Lực Giải Trừ Ách Cộng Sản-Xã Hội Mafia là Chọn Đường Sống thay thế cho Ngõ Cụt và Hẻm Chết.



Đó là giải pháp và trách nhiệm của từng người dân trong không gian Việt với tư duy khai phát, mở rộng của toàn dân tộc Việt Nam thực hiện Sự Thật và Lẽ Sống Công Bằng, Toàn Diện. Giải pháp khả thi đó là do chính mình quyết định tìm kiếm, mổ xẻ, chọn lựa, thi hành và đôn đốc. Giải pháp đó không thể là một phương kế ù lì bất động, vô tâm ”bất chiến tự nhiên thành”, hay cố ý trốn tránh trách nhiệm.



Trân trọng,



TS-LS Lưu Nguyễn Đạt



11.5.13

CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNG 10

CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNGLỜI TRÍCHMột điệp viên có giá trịbằng 10,000 quân lính.Tôn Tử Binh Pháp Kế hoạch ăn cắp kỹ thuật tân tiến để phát triển của Trung Cộng Một câu truyện về vụ ăn cắp được kể trên số báo mới nhất của BloombergBusinessweek, ngày 19 tháng 3, 2012, về sự suy sụp của công tyAMSC ở Massachusetts làm nhu liệu tin học cho quạt gió sản xuất điện. Vào tháng 6, 2011, ba nhân viên AMSC sang Trung Cộng để sửa phần nhu liệu của quạt gió cho công tyTrung Cộng Sinovel. Trước khi sửa, ba nhân viên cố gắng dừng quạt gió lại nhưng quạt gió cứ tiếp tục quay. Tìm hiểu mãi không biết lý do, ba nhân viên bèn sao lại bản nhu liệu trong quạt máy và gửi về trung tâmnghiên cứu ở Áo để xem xét. Kết quả cho thấy rằng nhu liệu dùng trongquạt gió là nhu liệu sao chép! Công tySinovel đã ăn cắp nhu liệu của côngty Mỹ AMSC và dùng không trả tiền. Cuối cùng Sinovel đã ngừng mua nhu liệu của AMSC và đã đưa tới sự suysụp của AMSC vì hợp đồng với Sino-vel chiếm tới 2/3 lợi tức của AMSC.Một trường hợp ăn cắp khác. Doug-fan Chung bị kết án 15 năm và 8 tháng dưới tội gián điệp thương mại. Dougfan là công dân Mỹ gốc Hoa, làm việc cho Boeing từ 1964, vớicông việc về cấu trúc thân phi thuyền không gian Space Shuttle. Vào năm2006, cơ quan FBI tìm thấy 300,000 trang tài liệu liên quan đến phi thuyền không gian, hỏa tiễn Delta IV, chiếnđấu cơ F-15, B-52, trực thăng Chi-nook. Một lá thư tìm thấy được viếtbởi viên chức Trung Cộng cám ơn Dougfan về những việc ông đã làmvà yêu cầu cung cấp thêm tài liệu về Space Shuttle.Tháng 11 vừa qua, 14 cơ quan an ninh Hoa Kỳ tường trình về chiến dịch ăn cắp kỹ thuật thương mại sâu rộng của các cơ quan gián điệp TrungCộng. Chiến dịch này đã được tiến hành từ nhiều năm qua liên quan đến nhiều ngành kỹ nghệ như: sinh học, truyền thông, siêu sinh học hay kỹnghệ xanh.Chính giới và kỹ nghệ gia Hoa Kỳthường lên tiếng phản đối TrungCộng nhưng tất cả đều đi vào khoảngkhông. Trung Cộng luôn hứa hẹn sẽmạnh tay với những kẻ ăn cắp nhưngchẳng bao giờ thấy hành động gì.Tại sao vậy? Trung Cộng gửi gián điệp thương mạiđi khắp nơi trên thế giới và điều nàycòn là một chủ trương mang tầm vóc quốc gia. Hoạt động gián điệp của Mỹ và Nga thường theo hình thức huấn luyện người kiểu điệp viên 007 rồi cài đặt ở những nơi cần thiết. Nhưng hoạt động gián điệp củaTrung Cộng mang hình thức quần chúng bằng cách dùng tiền để mua chuộc những nhân viên của công tyhay giao nhiệm vụ ghi chép tư liệu cho du học sinh, nhân viên sứ quán hay đối tác làm ăn. Đối với hình thứcgián điệp Trung Cộng, người nào cũng có thể là điệp viên, nhưng đa số là người có gốc gác Hoa kiều. Vấn đề gián điệp thương mại khôngphải là phát minh của Trung Cộngnhưng chuyện cần phải nói đến ở đâylà tầm mức rộng lớn của nó và sự điều khiển từ xa của một nhà nước với chủ đích không chỉ giới hạn trongmục tiêu cạnh tranh kinh tế. Đó là tham vọng bá quyền!Xin trích dẫn một câu nói của Mi-chael Bloomberg, nhà tỷ phú và thịtrưởng của thành phố New York:‘Bạn biết không, nếu bạn nhìn về thập niên 1930, tiền để kích thích kinh tế được dùng cho những côngtrình công cộng như cầu cống, tòa nhà chính phủ, đường xá. Nhưng tiền của kế hoạch kích thích kinh tế thờinay đã bốc hơi hoàn toàn, bắt đầu bằng chi phiếu $500. Chí phiếu đó đã được dùng để mua tivi làm từ TrungCộng.’Nhận địnhVấn đề gián điệp thương mại của Trung Cộng không chỉ giản dị là cuộc chiến tranh thương mại bình thường giữacác công ty. Đây là sự giao thương không công bằng. Dẫn đến hậu quả trước mắt là tình trạng trì trệ kinh tế và nạn thất nghiệp ở Mỹ. Hậu quả lâu dài là sự trỗi dậy của một quốc gia độc tài với tham vọng thống trị thế giới. Câu chuyện về sự nổi lên của đảng Quốc Xã Đức ở Âu Châu thời xưa và chiến tranh thế giới thứ Hai vẫn còn đó!


--------------------------------------------------------------------------------

Page 2

CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNGBước giày xâm lăng của Trung Cộng đã vào Việt NamBước giày xâm lăng của Trung Cộngvào Việt Nam bắt đầu từ ngày Hồ ChíMinh tiếp nhận viện trợ của TrungCộng sau năm 1949 để tiến hành kế hoạch nhuộm đỏ Việt Nam. Tuy vậy, CSVN vẫn luôn che dấu hành độngbán nước cầu vinh này. Kết quả là cho dù có nhiều tin tức và bằng chứngđược đưa ra, sự hoài nghi vẫn lảngvảng trong môi trường thảo luận chính trị. Sở dĩ có sự hoài nghi vìhình thức xâm lăng Việt Nam củaTrung Cộng giờ đây không còn là mộtcuộc tấn công quân sự lộ liễu mà là một sự xâm thực. Một kế hoạch biến đổi linh hồn Việt Nam thành linh hồn Tàu. Khi linh hồn Việt bị biến đổi thìlãnh thổ Việt Nam chỉ còn giản dị là một sự tự nguyện dâng hiến. Linh hồn thuộc về cõi vô hình, không dễ dàngthấy, vì thế không ít dư luận vẫn tỏ ra bán tín bán nghi, rằng Việt Nam vẫn chưa mất mà chỉ là do sự nhu nhược tham tiền, tham danh của “thiểu số”tham nhũng cầm quyền, và những thứ đó làm họ… lú!Làm chính trị là tiếp xúc và bám sátvới thực tế. Làm chính trị khônggiống như sáng tác thơ hay nhạc, không thể lãng mạn. Một bài thơ haybài nhạc nhắm làm rung động trái tim, nhưng muốn chuyển đổi một thể chế chính trị độc tài sang dân chủ thì cầnphải dựa trên lý luận và điều kiện thực tế. Vâng, đúng vậy, điều kiện thực tiễn!Trung Cộng đã tiến chiếm Việt Namdưới mọi hình thức chính trị, văn hóa, kinh tế, chính sách, biển đảo, biêngiới. Biển đảo thì quá rõ ràng qua sự kiện quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đường lưỡi bò, lệnh cấm đánh cá hàngnăm của Trung Cộng trong vùng biển Đông Nam Á, cấm ngư dân Việt Namlai vãng tới vùng quần đảo Hoàng Sa.Biên giới cũng hiển nhiên qua sự kiệnhiệp ước biên giới năm 1999, CSVNđã nhượng nhiều cây số vuông biên giới cho Trung Cộng.Văn hóa thì nhan nhản tài liệu phimảnh, nghệ thuật Tàu, sách vở Tàu ởViệt Nam. Đặc biệt tiếng Hán dùngtrong ngôn ngữ Việt Nam chưa bao giờ nhiều như thời nay. Mới đây, ngày 12 tháng 3, 2012, Bộ Giáo Dục Việt Nam còn táo bạo hơn bằng lệnh đưa chương trình học tiếng Hoa vào các cấp tiểu học và trung học, vớimục đích Hán hóa những đầu óc non trẻ của thế hệ tương lai. Về chính trị, đảng CSVN và đảng CS Trung Cộng là một “phe”. Từ ngàythế giới cộng sản Liên Xô sụp đổ, CSTC đóng vai đàn anh trong nhữngnước cộng sản còn lại, và mở rộngbiên giới Đại Hán! CSVN bắt đầu thời kỳ chư hầu và rập khuôn Trungcộng trên mọi bình diện, và nhất là hỗ trợ TC xâm lược VN từng bước. Khi xét khía cạnh kinh tế thì không gìrõ bằng nhìn vào những công trình đầu tư. Trung Cộng đầu tư vào ViệtNam không chỉ nhắm kiếm lời mà còn dùng kinh tế như công cụ để ảnh hưởng chính sách quốc gia. Vấn đề này thể hiện qua những dự án khaithác bauxite, thuê rừng đầu nguồn, đầu tư vào những lãnh vực sản xuấtkhoáng sản, năng lượng như than đá, quặng mỏ, điện năng. Đây là lãnh vựccó tầm ảnh hưởng tới an ninh quốc gia.Đọc báo và xem truyền hình rồi lùi lạimột bước để tổng kết và suy nghĩ, làmsao có thể nhầm lẫn về bước giày xâmlăng của Trung Cộng đã và đang tiến sâu vào Việt Nam?Phở PASTEURHIỀN VƯƠNG(714) 539-78889892 Westminster Ave. #315Garden Grove, CA 92844TOBIA CASKETNGUYỄN THIÊM(714) 894-372313951 Newland St.Westminster, CA 92683Nhóm Chống Tàu DViệt Cộngwww.chongtaudvietcong.wordpress.com chongtaudvietcong573@yahoo.com—(714) 398-9641Phụ trách: Trần Văn MinhQuý vị mạnh thường quân muốn góp sức cho cuộc hội thảo ngày 15 tháng 4, 2012Xin gọi Trần Văn Minh (714) 398-9641Hay gửi email về minhvantran99@yahoo.comCÁC CƠ SỞ THƯƠNG MẠI BẢO TRỢNhóm Chống Tàu DViệt Cộng kính mời đồng bào ViệtNam tham dự buổi hội thảo với chủ đềĐịnh Hướng Đấu Tranh Cho Việt Nam Tự DoThời gian:1 giờ tới 5 giờ chiều , Chủ Nhật 15 tháng 4 năm 2012Địa điểm:Westminster Community Center8200 Westminster Blvd. , Westminster, CA 92683Với các đề tài và diễn giả:1. Vấn đề Trung Quốc của thế giới và vấn đề Trung Quốc của Việt Nam—Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa2. Tác dụng hủy diệt đất nước và con người Việt Nam qua chính sách của đảng cộng sản Việt Nam—Giáo sư Trần Minh Xuân3. Lượng định áp lực quốc tế lên nhà cầm quyền ViệtNam và sự phản kháng của quần chúng quốc nội—Giáo sư Nguyễn Chính Kết4. Tham vọng Hán hóa Việt Nam của Trung Cộng qua các dự án khai thác bauxite ở Việt Nam—Tiến sĩ MaiThanh Truyết

8.5.13

Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam Những Giờ Sau Cùng

Những Giờ Sau Cùng Của Tướng Nguyễn Khoa Nam
 

Tư dinh tư lệnh Quân Ðoàn IV, nơi tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết
Ông Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH, là Tùy viên Tư lệnh QÐIV-QK4 cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1975. Ông là người đã trực tiếp chứng kiến cảnh cả hai vị tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng, Tư lệnh và Tư lệnh phó tự sát. Sau đây là chuyện ông kể trong “Hồi Ký Của Một Tuỳ Viên”, trích từ sách “Nguyễn Khoa Nam”.

Tháng 4 năm 1975
Tình hình chung vào tháng 3 năm 1975 rất căng thẳng. Vùng 1, vùng 2 đang đánh lớn còn Vùng 3 và 4 vẫn còn nguyên vẹn. Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng Tham Mưu, ở dinh Ðộc Lập gặp Tổng thống, lúc ở dinh phó Tổng thống. Thời gian còn lại, Tư lệnh thường đến các Tiểu khu và Sư đoàn nhưng đến nhiều nhất là tiểu khu Long An, Ðịnh Tường, Kiến Tường và Châu Ðốc. Vào đầu tháng 4, VC tấn công mạnh, nhằm vào quốc lộ 4 thuộc hai tiểu khu Ðịnh Tường và Long An. Sư Ðoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Ðịnh Tường còn Sư Ðoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Long An. Vào buổi trưa Tư lệnh đến tiểu khu Long An để biết tình hình địch, VC đã pháo rớt một quả hỏa tiển 122 ly trên giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại gì. Ðịch càng ngày càng tấn công mạnh vào quốc lộ 4, Tư lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu, không để mất vị trí hay bỏ chạy nên VC không chiếm được một vị trí nào cả.
Có một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiển 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và tư dinh Tư lệnh. Vị trí pháo hướng đông chi khu Bình Minh thuộc tiểu khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng.
Tình hình càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Ðéc. Trong lúc này, Tư lệnh rối bời lớp lo phòng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đã di tản từ vùng ngoại ô. Thiếu tướng ra lệnh các Tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Tư lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân đoàn IV và nhất là giữ quốc lộ 4 đừng để VC cắt đứt. Tư lệnh đặc biệt đến thăm tiểu khu Châu Ðốc, đi bộ thăm vòng đai phòng thủ quy mô của tiểu khu. Những ngày kế tiếp họp liên tục với các Tiểu khu và Sư đoàn. Trong lúc tình hình hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài Gòn lũ lược bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.
Sáng ngày 24 tháng 4, Tư lệnh đi họp ở bộ Tổng Tham Mưu, nội dung tôi không rõ.
Sáng 25 tháng 4, họp ở tiểu khu Ðịnh Tường, có tướng Trường tham dự.
Ngày 27 tháng 4, Tư lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí.
Sáng 28 tháng 4, cố vấn Mỹ có đến văn phòng Tư lệnh để nói chuyện, nội dung tôi không rõ.
Ngày 29, Tư lệnh vẫn đi bay, buổi chiều 29 về họp với tướng Mạch Văn Trường ở Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh ở gần phi trường Trà Nóc. Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao xao, nhớn nhác chạy lung tung đi lượm đồ của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy liệng đầy mặt đại lộ Hòa Bình, quần áo, lon, ly, đồ hộp lon bia vất tứ tung.
Áp lực địch vẫn nặng ở quốc lộ 4, Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp Tư lệnh báo cáo tình hình nguy ngập và xin giật sập cầu Long An. Tư lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ. Tư lệnh viết Nhật Lệnh đưa thiếu tá Ðức, Chánh văn phòng chuyển đến phòng Chiến tranh Chính trị để đọc trên đài Phát thanh và Truyền hình để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ. Vào buổi chiều, tôi thấy được hình Tư lệnh và kèm theo là Nhật lệnh, nội dung ngắn gọn trấn an dân chúng không được bạo động còn việc tử thủ không được đọc trên đài truyền hình. Sau khi thấy đọc, Tư lệnh buồn buồn chấp tay về phía sau đi tới đi lui trong phòng làm việc ở Bộ Tư lệnh. Sau đó, tướng Hưng, Tư lệnh phó vào gặp Tư lệnh (Nội dung cuộc nói chuyện tôi không rỏ). Về sau, tôi được biết nội dung bản Thông cáo đã bị sửa lại, không chính xác như lời Tư lệnh đã viết.
Ðêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc tiểu khu Vỉnh Bình. Ðịch đã nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng. Tư lệnh bảo tôi gọi Trung tá Sơn, tiểu khu trưởng tiểu khu Vỉnh Bình để ông nói chuyện. Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.
Sáng sớm 30 tháng 4, Tư lệnh bay xuống họp ở tiểu khu Ðịnh Tường. Cuộc họp nhanh và xong bay về Cần Thơ. Trở lại Quân đoàn, xin nói rõ về phòng làm việc của Tư lệnh, phòng làm việc chia hai tầng. Tầng trên có sẵn từ trước, thêm tầng dưới là hầm dưới chân phòng làm việc chính thức. Ở hầm này, rộng và cao, thiết trí giống như phòng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phòng Tư lệnh. Hầm làm việc này mới được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn.
Tình hình sáng 30 tháng 4 rất vắng vẻ, dân chúng thưa thớt đi lại, xe cộ hạn chế. Về tinh thần binh sĩ vẫn hăng say chiến đấu, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng mặc dù địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh.
Vào 10 giờ sáng, tôi được báo cáo là Thiếu tá Chánh văn phòng rời văn phòng bỏ đi cùng với đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan, lộ trình sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc mới của Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh đang ngồi và viết ở bàn làm việc. Tư lệnh thấy tôi theo thường lệ kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:
- Có gì không?
- Trình Thiếu tướng, thiếu tá Chánh văn phòng và đại tá Tỉnh trưởng Phong Dinh đã bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu.
Tư lệnh điềm nhiên không giận và nói:
- Ði hả! Ði làm chi vậy.
Nói xong, Tư lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tỉnh không la không buồn. Tôi bước lên cầu thang về phòng làm việc của mình, lúc này tôi mở radio 24/24 đi theo dõi tình hình ở Sài Gòn.
Tư lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:
- Gọi đại tá Thiên gặp tôi.
- Dạ.
Ðại tá Thiên mới nhận chức vụ Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh kể từ sáng ngày 30 tháng 4.
Bất chợt, tiếng của tổng thống Dương Văn Minh vang lên trên đài phát thanh. Ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với VC và nói:
- Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Tôi vội xô cửa vào phòng làm việc của Tư lệnh và nói:
- Tổng thống Dương Văn Minh đã …..
Tôi nói chưa hết câu, Tư lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:
- Qua đã nghe rồi.
Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này, nhiều lần Tư lệnh phó liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư lệnh. Qua điện thoại, Ðại tá Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp gấp Tư lệnh, lần thứ hai, Ðại tá xin giật sập cầu Long An để cắt đường VC chuyển về Vùng 4. Tư lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập.
Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở câu lạc bộ Cửu Long về, Tư lệnh đi thẳng vào phòng làm việc. Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua phòng làm việc, tôi thấy Tư lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn. Tư lệnh nhìn từ trang một, rồi từ từ xé bỏ vào sọt rác. Khoảng 2 giờ chiều, Tư lệnh xuống phòng làm việc dưới hầm. Tôi không biết Tư lệnh làm gì bởi vì phòng làm việc này không có nơi nhìn thấy Tư lệnh được. Tư lệnh bấm loa gọi tôi:
- Danh xuống đây tôi bảo.
Tôi vào phòng trên đi theo cầu thang xuống gặp Tư lệnh. Ông đang ngồi ở sofa nhìn về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi đến Tư lệnh nói:
- Danh tháo bỏ những ranh giới, những mủi tên trên bản đồ. (Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ). Tôi từ từ tháo bỏ, nhìn tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mủi tên đỏ chĩa vào (Có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật theo như tin đồn). Tôi tháo gỡ tất cả những băng keo bỏ vào sọt rác, tháo xong tôi nói:
- Trình Thiếu tướng, em đã tháo xong.
- Ðược rồi.
Tư lệnh buồn buồn theo cầu thang lên phòng làm việc tầng trên, tôi chầm chậm bước theo Tư lệnh và ra phòng làm việc của tôi. Ðộ 10 phút sau, Tư lệnh bấm loa gọi tiếp:
- Danh vào tôi bảo.
- Dạ.
Tôi xô cửa đi nhanh vào, Tư lệnh nhìn tôi nói:
- Tháo bỏ những vị trí trên bản đồ này.
- Dạ.
Tôi đang lúi húi tháo và liếc nhìn, tôi thấy Tư lệnh chấp tay về phía sau chầm chậm đi tới, đi lui. Tôi tháo xong:
- Trình Thiếu tướng, em đã tháo xong.
Nói về phòng làm việc của Tư lệnh, trước khi vào phải qua ba vọng gác: Từ ngoài vào, vọng gác 1 ngoài đầu đường trước khi vào phòng chờ đợi. Vọng gác 2 ngay phòng chờ đợi sát cổng Bộ Tư lệnh. Vọng gác 3 lên tam cấp trước cửa vào phòng làm việc của Tư lệnh.
Vào khoảng 4 giờ chiều, Quân cảnh ở phòng chờ đợi (Vọng gác 2) lên gặp tôi nói:
- Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư lệnh. Tôi nói:
- Anh bảo họ chờ một chút để tôi trình Tư lệnh.
Tôi gõ cửa vào gặp Tư lệnh và nói:
- Trình Thiếu tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu tướng.
- Ðược, mời họ vào.
Tôi xuống phòng khách gặp hai VC, tôi thấy hai người đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo, một người hơi thấp, nước da ngâm đen cũng mặc thường phục, họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí. Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào phòng làm việc của Tư lệnh. Tư lệnh chào hỏi và mời ngồi sofa, tôi bước nhanh ra phòng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào. Tôi mang vội khẩu súng colt và lấy khẩu AR15 lên đạn và bước nhanh vào phòng làm việc Tư lệnh. Tôi đứng sau hai ông VC này với tư thế sẵn sàng cách khoảng 4 thước, tôi sợ hai ông này ám sát Tư lệnh, tay súng sẵn sàng nếu hai ông này có hành vi lạ là tôi nổ súng bắn liền. Tư lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được. Bất chợt Tư lệnh ngước lên, nhìn tôi và bảo:
- Danh đi ra ngoài đi tôi nói chuyện.
Tôi ấp úng trả lời:
- Dạ … em ở đây với Thiếu tướng.
- Ðược rồi không sao đâu! Em ra ngoài đi.
- Dạ
Tôi ra lại phòng làm việc, súng vẫn thế thủ, mắt nhìn về hướng theo kẻ hở của cánh cửa đang hé mở. Tôi thấy Tư lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện. Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút. Tư lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ gì cả. Hai người đứng dậy giả từ. Tư lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về.
Tư lệnh ngồi buồn, kế đứng dậy đi tới đi lui như lúc trước, thời gian này rất căng thẳng và ngộp thở. Tôi suy nghĩ lung tung, nếu VC chiếm được Vùng 4 thì Tư lệnh sẽ ra sao? Tại sao Tư lệnh vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra, bây giờ còn đi ngoại quốc được không? Còn máy bay không? Hay là Thiếu tướng có người thân phía bên kia? Những câu tự hỏi đã vây chặt trong tôi.
Bất chợt tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường. Ðoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, chạy dài xuống cầu Cái Khế. Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, thì ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam, tôi thò đầu ra cửa sổ nhìn ra ngoài đường, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo hò vui vẻ nhưng họ không phá phách.
Khoảng 6 giờ chiều, điện thoại có tiếng lạ. Thông thường khi có chuông reo, tôi thường nói: Tôi trung úy Danh, tùy viên Tư lệnh, xin lổi ai đầu dây? Ở đầu dây xưng cấp bậc tên họ chức vụ rồi nói nhu cầu. Ðàng này sau khi tôi nói, bên kia đầu dây đáp:
- A lô ai đó? A lô ai đó?
Và tiếng lạ tôi không quen thuộc, tôi gác máy không trả lời. Còn đường dây Hotline trực tiếp của Tư lệnh tôi không rõ. Như vậy VC đã vào đường dây điện thoại. Trong lúc rối rắm, tôi qua phòng Tư lệnh phó gặp trung úy Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó. Lúc gặp anh Nghĩa, tôi nói tình trạng điện thoại đã bị VC chiếm và tôi đã nghe có tiếng lạ. Tôi đề nghị, nếu Tư lệnh và Tư lệnh phó muốn nói chuyện với nhau mình phải dùng máy PRC25, đồng thời tôi viết một loạt tần số để xử dụng máy PRC25 và đánh số thứ tự A, B, C, D … để Tư lệnh nói chuyện kín hơn.
Khoảng 6 giờ rưỡi, Tư lệnh sữa soạn về tư dinh, Thiếu tướng nói với tôi:
- Danh chuẩn bị xe đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.
- Dạ.
Xe chở Tư lệnh từ văn phòng đi thẳng vào bệnh viện. Tư lệnh đến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân còn lại quấn dây băng treo lên trên giá. Tư lệnh đến bên thương binh này hỏi:
- Em tên gì?
- Dạ em tên …
- Em ở đơn vị nào? Có khỏe không?
- Dạ khỏe, em là Ðịa phương quân ở tiểu khu Vỉnh Bình.
Tư lệnh nói tiếp:
- Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.
Tư lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư lệnh đi qua dãy kế bên và tiếp tục hơn một giờ buồn tẻ và nặng nề chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư lệnh đứng sát bên và hỏi:
- Vết thương của em đã lành chưa?
- Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu chưa lành.
Với nét mặt buồn buồn, Tư lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư lệnh chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư lệnh mếu máo:
- Thiếu tướng đừng bỏ tụi em nhe Thiếu tướng.
- Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em.
Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư lệnh đưa tay nâng sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương. Tư lệnh nén đau thương, người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
- Em cố gắng điều trị …. có qua ở đây.
Tư lệnh bước hơi nhanh ra cửa bệnh viện, ra sân Tư lệnh dừng lại quay mắt nhìn lại bệnh viện. Tư lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói gì cả, sự im lặng quá nặng nề, suốt trên đường về tư dinh, Tư lệnh không nói một lời nào.
Về đến tư dinh, tôi thấy Quân cảnh vẫn còn gác ở cổng, tôi đi một vòng xung quanh, những vọng gác vẫn còn người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẻ họ đã bỏ đi bớt. Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp trung sĩ Ngộ quản gia xem hôm nay anh nấu món gì vì hôm nay thăm bệnh viện về trễ. Gặp anh Ngộ, tôi nói:
- Anh Ngộ bắt một con gà làm và luộc để Thiếu tướng dùng.”
- Dạ con gà nào Trung úy?
- Ðàn gà nòi Thiếu tướng nuôi anh chọn một con.
Lúc này trên 8 giờ tối, phía Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen nghịt, càng lúc VC bắn càng nhiều. Con gà, anh Ngộ làm và nấu xong, đích thân tôi ra sau trailer mời Thiếu tướng vào ăn cơm. Tư lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:
- Danh ngồi ăn cơm cho vui.
Ði các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư lệnh, còn ở dinh Tư lệnh thường ăn cơm một mình, vừa ăn cơm vừa xem truyền hình rất lâu. Hôm nay, lần đầu tiên Tư lệnh gọi tôi ăn cơm chung ở dinh, tôi thấy có điều gì, hơn nữa sự việc xảy ra tùm lum bụng dạ đâu mà ăn với uống. Tư lệnh thấy thịt gà xé nhỏ, còn nước luộc gà làm canh, Tư lệnh hỏi:
- Thịt gà đâu vậy?
Tôi gượng cười nói:
- Dạ mấy con gà Thiếu tướng nuôi ở sau, em bảo anh Ngộ làm một con để Thiếu tướng dùng.
- Làm thịt chi vậy, ăn như vậy được rồi. Thôi ăn để nguội.
Tư lệnh không ăn cơm, chỉ dùng vài muỗng canh, vài miếng thịt gà. Còn tôi thì no hơi, ăn hết vô, qua loa vài miếng vội buông đũa và nói:
- Dạ em ăn xong, Thiếu tướng dùng tiếp.
Thiếu tướng nói:
- Ăn tiếp, sao Danh ăn ít vậy, thịt còn nhiều.
Vừa nói, Tư lệnh gắp bỏ cho tôi một miếng thịt xé phay dài. Trời! Ăn gì nổi, bình thường ăn thấy ngon bây giờ ăn thịt gà cũng như ăn cây mục, miệng đắng nghét, tôi cố gắng nuốt trôi hết miếng thịt này, xong xin phép Thiếu tướng ra phòng làm việc. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy vắng lạnh, một sự vắng vẻ đáng sợ, một số anh em quân nhân đã bỏ đi, số còn lại một vài người đã mặc thường phục, một số vẫn còn mặc đồ lính. Còn hướng phòng trung úy Hỉ, sĩ quan bảo vệ cũng vắng ngắt, có lẻ anh đã bỏ đi (nhà trung úy Hỉ ở gần phi trường Trà Nóc). Còn trung úy Việt cùng vợ 2 con vẫn còn ở lại nhà cạnh bờ sông. Việt và tôi gặp nhau chỉ biết lắc đầu, rồi Tư lệnh đến bàn làm việc của tôi nói:
- Có liên lạc với tướng Hưng không hè?
- Dạ điện thoại bị mất liên lạc, có tiếng lạ em không dám gọi. Tôi nói tiếp:
- Dạ, Thiếu tướng muốn nói chuyện với Tư lệnh phó?
- Qua muốn nói chuyện.
Tôi nói với Tư lệnh:
- Vào lúc 5 giờ chiều, hệ thống điện thoại có tiếng lạ, em có cho anh Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó một số tần số PRC25 để lúc cần Thiếu tướng nói chuyện, nhưng bây giờ em không liên lạc được.
Tôi nói tiếp:
- Ðể em đi lại dinh Tư lệnh phó nói mở máy PRC25 để Thiếu tướng nói chuyện.
Tư lệnh làm thinh, tôi bảo anh Thông tài xế lấy xe jeep chở đi từ tư dinh đến dinh Tư lệnh phó đối diện dinh Tỉnh trưởng Phong Dinh. Sắp sửa rẽ phải vào dinh Tư lệnh phó thì thấy phía bên trái trước dinh tỉnh trưởng có một VC với khẩu AK ở tư thế sẵn sàng, để súng cạnh sườn, mủi súng chỉa lên trời. Anh Thông tài xế kêu tôi và chỉ:
- VC đã vô tới rồi.
Tôi bảo tài xế:
- Quay trở lại đi không ổn rồi.
Tài xế lái nhanh về dinh Tư lệnh và đóng cửa dinh lại. Tôi xuống xe bảo các anh em còn lại kéo khoảng 4-5 vòng kẻm gai rào chặn từ cổng vào hướng cột cờ, rào xong tôi vào trailer báo Tư lệnh:
- Trình Tư lệnh, VC đã vào đến dinh Tỉnh trưởng. Em thấy có một VC cầm súng AK ở trước dinh Tỉnh trưởng.
Tư lệnh làm thinh không nói gì cả, khoảng hai phút sau, tôi nói với Thiếu tướng:
- Em đi lần nữa, để Thiếu tướng nói chuyện với Tư lệnh phó. Tư lệnh nhỏ nhẹ nói:
- Thôi đừng đi coi chừng nó bắt.
- Dạ không sao!
Nói xong, tôi cởi bỏ áo lính, vẫn mặc quần lính mang giày với áo thun vội ra sân gọi anh tài xế:
- Anh Thông đâu đến tôi nhờ một chút.
Tôi la lên, không một tiếng trả lời. Anh Ngộ quản gia nói:
- Em vừa thấy anh Thông ra cổng. Anh đã bỏ đi rồi.
Bất chợt có một anh (tôi quên cấp bậc và tên):
- Trung úy cần gì em giúp.
- Anh muốn đến dinh Tư lệnh phó.
- Ðược rồi để em đưa ông thầy đi.
Anh lính lấy chiếc Honda màu đỏ chạy đến và nói:
- Ði Honda tiện hơn Trung úy.
Rồi anh chở tôi về hướng dinh Tư lệnh phó, rẻ vào dinh anh đậu cách đây khoảng 10 mét bên lề đường.
Dinh Tư lệnh phó, trước và sau có cổng ra vào bằng cửa sắt, xung quanh xây tường cao độ 2 mét. Cửa trước đối diện với dinh Tỉnh trưởng, cửa sau quay ra mặt đường. Cửa trước và sau đều đóng và khóa chặt, từ cửa trước nhìn vào tôi đi sát hông tường bên phải, có một cây ổi mọc từ phía trong xòe nhánh phủ ra bên ngoài. Trong dinh im lặng không một tiếng động, tôi gọi lớn:
- Nghĩa ơi Nghĩa, Phúc ơi Phúc, tao là Danh.
Tôi gọi 4, 5 lần nhưng vẫn thấy im lặng không có tiếng trả lời.
Tôi linh cảm không ổn, tôi gọi tiếp và quay lại định trở về, tôi thầm nói không lẻ mình bỏ cuộc. Tôi nói qua với anh lính đậu bên kia đường:
- Anh ráng chờ tôi một chút.
Bất chợt có tiếng nổ đùng, có tiếng xôn xao, tiếp theo tiếng khóc. Tôi chạy lại vách tường có nhánh cây ổi xòe ra, tôi quyết định đu nhánh ổi này nhảy vào, tay phải níu nhánh ổi, tay trái vịn vào vách tường miệng liên tục la lớn:
- Tôi trung úy Danh đừng bắn, tôi trung úy Danh đừng bắn. Miệng la tay níu kéo leo vào, tôi lên được đỉnh tường theo đà cây ổi tuột xuống đất. Gặp tôi, anh Nghĩa vừa nói vừa khóc:
- Chuẩn tướng tự sát chết rồi Danh.
- Lúc nào?
- Mới đây, chắc có lẽ hồi nảy Danh nghe tiếng súng nổ.
Anh nói tiếp:
- Chuẩn tướng đang ăn cơm, nghe tiếng động, ông bỏ bàn ăn đứng dậy, bà Tướng chạy theo ông ngăn lại. Tư lệnh phó vào đóng cửa lại và bắn vào ngực tự sát.
Tôi đến cửa, thấy cửa phòng hé mở, tôi xô nhẹ cánh cửa bước vào, tôi thấy tướng Hưng nằm bất động trên giường, bà Hưng đang ôm chầm Tư lệnh phó khóc, còn hai đứa con nhỏ đứng kế bên vô tư lự như không có gì xảy ra, kế bên những anh lính đang sụt sùi khóc. Tôi quay ra nói với anh Nghĩa:
- Thôi Danh đi về.
Tôi không nói anh Nghĩa mở tần số máy PRC25 gì nữa, chuẩn tướng đã chết rồi. Tình hình rối ren, bận rộn, tôi không nhờ mở cửa, tôi trèo cây ổi lên đầu tường rồi nhảy ra ngoài. Xuống đến mặt đất, tôi suy nghĩ lung tung: Tại sao Tư lệnh phó tự sát? Nếu Tư lệnh hay được thì ra sao? Hay là lúc tôi la to gọi anh Nghĩa, Phúc, ở đây tưởng VC vào tới nên Chuẩn tướng tự sát hay là … tôi vừa suy nghĩ vừa cúi đầu bước đi đến anh lính đậu xe Honda lúc nãy.
Trời! xe và người biến đâu mất, tôi đảo mắt nhìn quanh vẫn không thấy, chắc anh bỏ đi rồi, tôi không trách anh, anh đã giúp tôi như vậy cũng đủ lắm rồi. Tôi lội bộ từ đây cặp theo lộ Hòa Bình đi thẳng về dinh, trên đường phố vắng hoe không một bóng người lai vãng, chỉ có những mảnh giấy vụn vất bừa bải đầy đường, thỉnh thoảng bay tứ tung theo cơn gió (giấy tờ của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ dân hôi của vất ra đường từ hôm trước).
Tôi đi bộ mất trên 15 phút về đến dinh, anh lính vẹt từng vòng kẽm gai tôi đi vào rồi kéo lại vị trí củ. Tôi đi nhanh về phía sau vào trailer để trình Tư lệnh sự việc đã xảy ra, vừa thấy Tư lệnh tôi vội vả nói:
- Trình Thiếu tướng em đến dinh Tư lệnh phó, đến nơi ông vừa tự sát chết, Tư lệnh phó đã bắn vào ngực.
- Tướng Hưng chết hả? Chết làm chi?
Tư lệnh chỉ nói vậy. Tôi trở ra về nơi làm việc, ngồi trên sofa suy nghĩ liên miên. Tư lệnh phó đã tự sát, chắc Tư lệnh sẽ tự sát theo. Tôi xuống nhà gặp trung úy Việt và nói Tư lệnh phó đã tự sát còn Thiếu tướng không biết thế nào? Hai đứa tôi không tìm ra câu trả lời.
Lúc này khoảng 11 giờ đêm, cứ khoảng 15 hay 20 phút tôi vào trailer một lần. Mổi lần vào liếc nhìn, tôi thấy Tư lệnh nằm nghỉ nhưng giày vẫn còn mang. Lần khác vào, Tư lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:
- Có gì không?
- Em vào xem Thiếu tướng có sai bảo gì không?
Tư lệnh nói:
- Sao em không đi ngủ đi! khuya rồi.
Tôi nhỏ nhẹ nói:
- Trình Thiếu tướng, nếu VC vào dinh tụi em đánh không Thiếu tướng?
- Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.
Tôi rời trailer đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau, Tư lệnh ra phòng làm việc tôi đưa một gói hình chữ nhật dài độ 2 tấc, rộng 1 tấc, dầy 5 phân và nói:
- Danh cất tiền này dành để xài. (Có thể đây là tiền lương của Thiếu tướng không dùng để dành).
Xong Tư lệnh đi vào trailer, tôi hé mở gói này, bên trong toàn bạc 500, tôi đoán chừng trên 400 ngàn đồng và tôi để vào ngăn kéo nơi bàn làm việc. Tôi tiếp tục rón rén vào trailer để quan sát, tôi sợ Tư lệnh tự sát.
Khoảng 12 giờ 30 khuya, Tư lệnh ra gặp tôi nói:
- Sao Danh không đi ngủ? Thức cả đêm à?
- Dạ em ngủ không được.
Tư lệnh móc từ trong túi ra một khẩu súng nhỏ, ngắn hơn gang tay và nói:
- Danh cất khẩu súng này dành để hộ thân.
Tôi nhận khẩu súng bỏ vào ngăn kéo chung với gói tiền lúc nảy. Tôi xuống nói chuyện với anh Việt và anh Ngộ, Thiếu tướng đã cho tôi súng, không hiểu Tư lệnh có ý định gì?
Khoảng sau 1 giờ sáng, anh lính hơ hải chạy vào gặp tôi:
- VC tự động mở cửa vào dinh.
- Anh bảo họ chờ tôi một chút.
Tôi vội vả vào trailer để gặp Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh nằm nghĩ. Tôi trình:
- Trình Thiếu tướng, bọn VC đang vào dinh.
- Bảo họ chờ tôi ra nói chuyện.
Tôi đi nhanh ra trước cổng dinh, lúc bấy giờ tôi vẫn mặc áo thun, quần lính, mang giày. Gần đến cổng dinh, tôi thấy lố nhố 6, 7 người đang vẹt kẻm gai đi vào hướng cửa dinh. Ðến gần, tôi thấy 4 nam, 1 nữ có vấn đầu tóc lũng lẵng phía sau ót và một em bé độ 10 tuổi. Nam trang bị 1 khẩu AK, một người mang khẩu Carbin, một người mang súng lục (súng loại cảnh sát xử dụng) số còn lại tay không, không mang giấy tờ hay máy móc gì cả. Nhóm người này tuổi dưới 40, đến vòng kẻm gai thứ ba từ ngoài vào, còn hai vòng nửa từ cửa dinh ra, tôi vẹt kẻm gai và gặp họ tại đây. Một người trong nhóm quay qua hỏi tôi:
- Anh làm gì ở đây?
Tôi nói:
- Tôi làm quản gia.
Tôi nói trớ, không dám nói là tùy viên sợ bọn chúng bắn. Người mang khẩu AK hỏi tiếp:
- Anh cấp bậc gì?
- Tôi Trung sĩ.
Bất chợt người mang AK lên đạn đưa mủi súng vào phía sườn tôi và nói:
- Ði.
Tôi lúc bấy giờ hồn phi phách tán, chết là cái chắc. Trong nhóm có người nói:
- Ở đây nó làm lớn không hà, tính nó đi.
Bọn chúng từ từ hướng vào cửa dinh, đến gần cột cờ, đứa trẻ con ôm chầm lấy khẩu súng đồng thời Pháp, súng đặt dưới chân cột cờ để làm kiểng, đứa trẻ reo lên:
- Súng ngộ và đẹp quá.
Chị bới tóc tiếp theo:
- Nhờ có dịp này mới được vào dinh Tướng.
Tôi nghe và thấy những việc trên, cỏi lòng se lại. Bất chợt, nhóm người này dừng lại, người mang khẩu AK hất mặt ra dấu tôi đi qua hướng nhà bếp, ngang qua phòng ngủ của tôi. Chết rồi, chắc bọn chúng bắn mình ở đây, tôi chầm chậm bước đi, đầu ngoái lại cửa vô dinh. Tôi thấy Tư lệnh bước ra, đẩy nhẹ cánh cửa (cửa lưới chắn ruồi trước khi vào phòng làm việc).
Bọn người này bảo tôi dừng lại, ba người bước vào phòng (một người tay không, một người mang khẩu P-38, một người mang khẩu Carbin). Số còn lại lảng vảng phía ngoài, người mang AK vẫn hướng súng về phía tôi. Khoảnh khắc, trung sĩ Ngộ từ phòng Thiếu tướng đang nói chuyện với VC chạy đến tôi nói:
- Thiếu tướng bảo Trung úy lấy thuốc lá hút.
Có cớ vào gặp Tư lệnh, người mang AK bỏ thỏng súng xuống, tôi lặng lẽ bước đi, nhưng sợ hãi nó đàng sau bắn tới. Vô sự thế là thoát nạn, vào phòng tôi mở ngăn tủ lấy gói thuốc Capstan đầu lọc mời Thiếu tướng một điếu, 3 người mổi người một điếu (Tư lệnh hút thuốc 3 số 555 nhưng thỉnh thoảng hút thuốc Capstan đầu lọc). Tôi thấy Tư lệnh ngồi trên sofa băng dài, người tay không ngồi trên ghế nhỏ đối diện Tư lệnh, người mang khẩu P-38 ngồi dưới sàn nhà, tay cầm khẩu súng để trên đầu gối mủi súng hướng về phía Tư lệnh, còn người mang khẩu carbin đứng ngay cửa phòng tư thế tác chiến.
Xong nhiệm vụ tôi bước ra ngoài, người mang AK vẫn ở thế tác chiến nhưng không để ý đến tôi nữa. Trên dưới mười phút nói chuyện, nhóm người này rời dinh ra về, tôi vào phòng thấy Tư lệnh vừa đứng dậy bước ra ngoài với khuôn mặt buồn buồn, nhìn trên sofa tôi thấy điếu thuốc của Thiếu tướng còn cháy dở dang, mới 1/3 điếu nằm trên sofa bốc khói làm lủng một lổ nhỏ, tôi lấy vất đi. Cuộc nói chuyện này chỉ đơn phương, không có viết giấy tờ hay ký tên gì cả cũng không có máy móc khi hai bên gặp nhau. Tư lệnh vào trailer nằm nghĩ, tôi vào lần nữa thấy Tư lệnh nằm yên, chắc Tư lệnh đã mệt.
Trong suốt đêm 30 tháng 4, Tư lệnh và tôi hầu như không ngủ, khoảng 3 giờ sáng, tôi rón rén vào phòng Tư lệnh lần nữa, thấy Tư lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức vì trong lúc nằm nghĩ vẫn mang cặp kính đen. Tôi cũng quá mệt ra phòng làm việc ngã lưng trên sofa một chút, vang vang bên tai những loạt AK nổ liên hồi, chắc đối phương nổ súng mừng chiến thắng.
Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bổng nghe tiếng chuông “boong, boong, boong”, tôi bật mình ngồi dậy, nhìn đồng hồ thấy hơn 6 giờ, qua đến bàn Phật, tôi thấy 3 cây nhang Tư lệnh đã đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút. Tư lệnh mặc quân phục hẳn hoi đang nghiêng mình xá Phật. Tôi vội đi nhanh làm vệ sinh cá nhân, xong mặc quân phục vào và đến đứng nghiêm chào Thiếu tướng. Thiếu tướng đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và hỏi:
- Ðêm qua, Danh ngủ được không?
- Mệt quá em nằm nghỉ một chút.
Tư lệnh vẫn ngồi trên sofa nơi phòng thờ Phật, tôi đi sang qua phòng làm việc. Một lúc sau, Tư lệnh đến bên tôi hỏi:
- Gặp tướng Trường được không hè?
Lúc này khoảng 6 giờ 30 sáng.
- Dạ … dạ. Tôi ấp úng trả lời. Hồi chiều tối hôm qua ở trên lầu em thấy tướng Trường chạy xe jeep ngang qua dinh.
Tư lệnh hỏi tiếp:
- Có phải Trường không?
- Em ở trên lầu hơi xa, em thấy giống tướng Trường.
- Thôi đừng đi tìm, kẻo bị chúng bắt.
- Dạ.
Rồi Tư lệnh đi ra sau vào trailer, một lát sau Tư lệnh đi ra hai tay xách hai vali gặp tôi và anh Việt ngay ở cửa ra vào phòng thờ Phật. Tư lệnh đưa cho tôi một cái màu cam, còn trung úy Việt một cái màu đen hay nâu tôi không nhớ rỏ. Tư lệnh buồn buồn nói:
- Danh giữ cái này, Việt giữ cái này.
Tư lệnh chỉ nói ngắn gọn không nói thêm gì, hình như cổ ông nghẹn lại. Tư lệnh vội bước đi, cách vài bước Tư lệnh quay lại nói tiếp:
- À, quên chìa khóa. Rồi Tư lệnh đi thẳng về sau vào trailer, một lúc sau trở ra trao cho tôi hai chìa khóa và nói:
- Cái này của Danh, cái này của Việt.
Tôi linh tính sắp có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng bên tay phải Tư lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trước lộ vài xe qua lại, người thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu tướng bật khóc. Tướng cố nén tiếng khóc không bật thành tiếng, những giọt nước mắt cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn vì nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy, ba người đứng ở đây mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy.
Tôi nghĩ Tư lệnh đi ngoại quốc hết kịp rồi, tới đây VC có bắt Tư lệnh không? Có làm hỗn bắn Tư lệnh không? Nếu sự việc xảy ra thì phải giải quyết làm sao? Tôi đang miên man suy nghĩ, Tư lệnh xoay lưng chầm chậm theo bậc thang xuống tầng dưới.
Tư lệnh sắp tự sát
Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa về thăm vợ con, còn trung sĩ Ngộ đang thập thò trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông “boong, boong, boong” xong xá 3 xá tiếp, xong Tư lệnh về ngồi nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa nhịp nhịp như không có chuyện gì sắp xảy ra. Bất chợt, Tư lệnh xoay qua bảo tôi:
- Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.
- Dạ.
Tôi thầm nghĩ Tư lệnh và tôi độc thân chắc Tư lệnh nghĩ cách khác.
Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Tôi vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ “đùng” phát ra từ hướng bàn thờ Phật, tôi xoay người trở lại chưa kịp bước trung sĩ Ngộ thất thanh chạy la lên:
- Ðại úy ơi! Ðại úy ơi! Thiếu tướng tự sát chết rồi.
Trong lúc sợ hãi, anh Ngộ gọi tôi là Ðại úy. Tôi chạy nhanh vào thấy cảnh tượng hải hùng chưa bao giờ gặp. Tư lệnh ngã ngửa hơi lệch về phía sau sofa, đầu hơi nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 vẫn còn trong tay buông thỏng xuống lòng Tư lệnh nhưng những ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên qua màng tang phải qua trái, ngước mắt nhìn lên trần nhà. Tư lệnh chưa chết, nhưng nói không được, giật run rẩy người, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng “khọc, khọc, khọc” từng chập và từ từ nhỏ dần.
Anh Ngộ thấy vậy vội nói:
- Thôi mình chở Thiếu tướng đi bệnh viện.
Tôi và anh Ngộ ôm chầm lấy Thiếu tướng vừa khóc vừa nói:
- Chắc trễ rồi, vết thương ở đầu vô phương cứu chữa, hơn nữa Thiếu tướng đã quyết định tự sát. Hèn chi hôm qua Thiếu tướng đi thăm anh em thương binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản rất lâu và nói với anh em thương binh qua ở lại với các em.
Anh Ngộ nói tiếp:
- Em đâu dám đến gần Thiếu tướng. Ðứng ở ngoài cửa em chỉ thấy lưng Thiếu tướng. Em thấy Thiếu tướng móc từ trong túi ra, em tưởng Thiếu tướng lấy thuốc hút, nào ngờ Thiếu tướng nổ súng liền em chạy lại đâu kịp.
Vừa nói anh Ngộ khóc nức nở, chúng tôi vẫn ôm choàng lấy Tư lệnh khóc. Trong lúc bối rối và hết hồn, tôi đâu có tâm trí đi xem đồng hồ, khoảng 7 giờ 30 ngày 1 tháng 5 năm 1975.
Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH
Sinh Tồn chuyển
 Haiau Vienxu 

CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNG 8

CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNGCHỦ TRƯƠNGChủ trương của Chống Tàu DViệt Cộng là tố cáo sự xâm lăng Việt Nam của TrungCộng và hành động tay sai bán nước của đảng cộng sản Việt Nam. TRUNG CỘNG KIỂM SOÁT HỐI XUẤT GIỮA ĐỒNG MỸ KIM VÀ ĐỒNGNGUYÊNTừ ngày Trung Cộng gia nhập WTOvào năm 2001 cho tới nay, cán cân thâm thủng mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng chiếm 83% trong tổng số thâm thủng (không kể xăng dầu) củaHoa Kỳ với tất cả các nước trên thế giới. Điều này nói lên một sự trao đổithương mại không bình thường giữaHoa Kỳ và Trung Cộng. Một trongnhững phương cách bất chính được Quốc Hội Hoa Kỳ cũng như các côngty, nghiệp đoàn Hoa Kỳ nêu lên nhiều nhất là sự kiểm soát hối xuất giữađồng mỹ kim và đồng nguyên.Tại sao sự kiểm soát hối xuất này lạilà nguyên nhân chính cho vấn đềthâm thủng mậu dịch? Trong môitrường tự do thương mại, giá cả lên xuống phải được quyết định bởinguyên tắc cung cầu tự nhiên; có nghĩa không một thế lực nào được phép nhúng tay vào sự quyết định giá cả thị trường. Thí dụ, khi một quốc gia A có kinh tế suy thoái thì giá trịđồng tiền của quốc gia A sẽ giảm so với đồng tiền quốc gia B có kinh tế phát triển mạnh. Nhờ sự “hạ giá” của đồng tiền quốc gia A nên hàng hóa từ quốc gia A bán sang quốc gia B sẽ rẻ hơn và sẽ bán được nhiều hơn, và kéo lại cán cân mậu dịch giữa 2 nước.Nguyên tắc này là một cách kiểm soátmậu dịch tự nhiên giúp cho mọi quốc gia có được sự giao thương quân bằng để cùng có lợi. Nhưng TrungCộng thì lại không giữ luật sau khi kýhiệp ước thương mại thế giới; họ áp dụng chính sách kiểm soát hối đoáibằng cách ấn định giá hối đoái giữađồng đô la và đồng nguyên thay vì để lên xuống tự do theo thị trường, khiđồng đô lên thì đồng nguyên lên và ngược lại. Sự ấn định hối xuất này sẽ đưa tới haihê quả: (1) Cán cân thương mại giữaHoa Kỳ và Trung Cộng luôn luôn bịchênh lệch và ngày càng nhiều do những mánh lới bán phá giá; (2) Các hãng xưởng Hoa Kỳ phải đóng cửa và dọn sang Tàu với sự hỗ trợ của đồngđô đắt giá và đồng nguyên rẻ mạt.Kết quả là Hoa Kỳ có một nền kinh tế suy thoái bắt đầu từ 2007 và trở nên trì trệ cho tới ngày nay, 2012. Nhìn về tương lai thì vẫn không thấy gìsáng sủa vì hàng Tàu vẫn rẻ và hàngMỹ vẫn mắc. Dân chúng Hoa Kỳ đã sống rất lâu trong tình trạng thâm hụtngân sách, thâm thủng mậu dịch, nhưng hình như đã quên rằng mình đang vay tiền để tiêu xài. Giống như sự chi tiêu của một gia đình, nếu số tiền kiếm được không bằng số tiền chi ra thì phải đi mượn nợ! Hậu quảcủa sự mượn nợ này là sự mất giá của đồng đô la so với các đồng tiền kháctrên thế giới; tuy nhiên đồng đô la vẫn không nhúc nhích so với đồngnguyên, cho dù kinh tế Trung cộngphát triển khoảng 10% một năm trongvòng 30 năm qua!Trong bài diễn văn đầu năm 2012 đọc trước Quốc Hội, Tổng Thống Obama tuyên bố sẽ thành lập một ủy ban đểtheo dõi thương mại với Trung cộng. Đây là một bước tiến tích cực vì bao năm nay chưa thấy Tổng Thống nào “dám” có hành động đáp ứng cụ thể. Lý do tại sao? Vì Trung cộng đang có trong tay số công khố phiếu trị giá 1,1ức mỹ kim. Mỗi lần Hoa Kỳ lên tiếngthì TC liền hăm dọa bán tháo côngkhố phiếu. Điều này sẽ gây hại trầmtrọng cho kinh tế Mỹ. Nhưng tình hình ngày nay đã khác. Mưu đồ bành trướng quân sự, kế hoạch chiếm đoạt tài nguyên thế giới, toan tính thống trị kinh tế thế giớibằng những mánh lới bất chính và sự độc tài toàn trị tàn ác của đảng CSTCđã không còn che mắt được dư luận Hoa Kỳ. Điển hình là thái độ can đảmđương đầu với vấn đề giao thươngkinh tế của Tổng Thống Obama vớisự hỗ trợ của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa mà chúng ta chứng kiến.Nhận địnhBước tiến của Trung cộng trong 30 năm qua tương đương với bước tiến của các quốc gia Tây Phương trong vòng100 năm. Ai cũng ngỡ rằng khi TC gia nhập WTO, họ sẽ phải chấp nhận chơi theo luật và nền chính trị của họ sẽphải thay đổi. Bây giờ nhìn lại, mọi người đã lầm! Củ cà rốt không thích hợp cho một chế độ cộng sản.


--------------------------------------------------------------------------------

Page 2

CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNGĐẢNG CSVN ĐANG TRÊN ĐÀ SỤP ĐỔ?Nỗi sợ của quần chúng đang lùi dầnKhi tổng kết tình hình dân chủ ở ViệtNam trong năm 2011, mọi cơ quan truyền thông đều nhận thấy trào lưu dân chủ ở VN ngày một gia tăng và sự đàn áp của nhà cầm quyền cũnggia tăng theo để cố gắng chặn đứngtất cả mọi mầm mống dân chủ. Điều này đưa tới một thực tế hiển nhiên rằng nỗi sợ đang di chuyển từ phía quần chúng sang nhà cầm quyền cộngsản. Vì sợ nên nhà cầm quyền mới gia tăng đàn áp bắt bớ và vì bớt sợ nên quần chúng mới có nhiều người dámđứng lên phản đối những bất công.Nhà cầm quyền đang sợĐứng trước những vụ dân oan biểu tình đòi đất, tiếng nói yêu nước củathanh niên, sinh viên, tiếng kêu gọicải cách của các nhà trí thức, nhà cầmquyền cộng sản biết rằng quyền lựccủa họ đang bị thách đố và tiếng nóicủa họ không được quần chúng lắngnghe như xưa. Trung ương ĐảngCộng Sản biết vậy nên đã gióng tiếngchuông báo động sự suy sụp của đảngvà đổ mọi lỗi cho tham nhũng của“cấp dưới”. Họ kêu gọi chỉnh đốn lạihàng ngũ Đảng để lấy lại uy tín cho Đảng. Phải chăng trung ương ĐảngCộng Sản thực sự muốn trong sạch hóa hàng ngũ Đảng?Lời kêu gọi trong sạch hóa Đảng chỉ là hỏa mùNgày nay cộng sản không mang ýnghĩa của cộng sản Karl Max hayLenin mà là cộng sản theo định nghĩatùy tiện của họ. Nếu Đảng cộng sản không đem lại lợi ích cho từng cánhân đảng viên thì ai là người theo đảng thời nay? Bởi vậy căn bản của họ là một nhóm người chuyên quyền để chia chác quyền lợi với nhau, dĩnhiên trên tài sản quốc gia và sức lao động của toàn dân. Điều này đồngnghĩa với việc dùng tham nhũng làmcăn bản đoàn kết của đảng. Nếu không còn tham nhũng thì Đảng cũngsẽ chết… một cách tự nhiên vì chẳngai thèm theo Đảng làm gì. Vậy thì tạisao ban lãnh đạo Đảng lại lên tiếngchỉ trích chuyện tham nhũng? Phảichăng trung tâm đầu não tham nhũng(trung ương đảng Cộng Sản) độtnhiên nhận ra rằng tham nhũng là nguyên nhân gây ra sự suy sụp của Đảng và muốn “hoàn thiện”? Hay là họ muốn nhắn nhủ các đảng viên chuyện gì khác mà không tiện nói ra?Đảng CSVN muốn củng cố quyền lựcTrước tiên, các tổ sư tham nhũng củatrung ương Đảng CSVN không phảilà những người theo hùa tham nhũngvà việc dùng tham nhũng để đoàn kếtĐảng của họ không phải là sự vô tình hay không suy nghĩ. Đường lối củađảng CSVN chỉ là bản sao của đảngCS Trung Cộng. Ngày nay đứngtrước tình hình dân chủ thế giới đanglên, tinh thần chống ngoại xâm củangười dân VN, nỗi bất bình của dân chúng về bất công xã hội…, đảngCSVN lo sợ bị sụp đổ. Họ biết rằngcần phải giành lại quyền lực lãnh đạo tuyệt đối để mọi người dân phải tuân theo mệnh lệnh của họ. Để đạt được mục tiêu này, họ phải gia tăng đàn áp và bắt bớ để sự bất mãn chế độ chếttừ trong trứng nước mà không lan rộng ra. Vì thế, lời kêu gọi chỉnh đốn Đảng của họ mang ý nghĩa ra chỉ thịcho các cấp dưới phải dập tắt mọitiếng nói phản kháng để che đậy sựsai trái của đảng chứ không phải là sựtrong sạch hóa hệ thống đảng. Quyền lực đảng CSVN đang bị sóimònTừ ý nghĩa này, những nhà đấu tranh dân chủ hay dân oan nên đặt mình trong trạng thái đề cao cảnh giác. Đảng CSVN ngày nay không còn có những đảng viên mang lương tâm con người. Đừng trông mong gì với nhữngthỉnh nguyện lên các quan chức và cũng đừng nên nuôi hy vọng họ sẽ“hoàn thiện”. Như một số nhà trí thứckhuyên đảng CSVN nên tự trong sạch hóa, nếu không thì (dọa) đảng của họ sẽ tan rã vì bị mất lòng dân. Đây là cái nhìn của những trí thức “mù” vìkhông nhìn thấy bản chất của đảngCS ngày nay (và ngay cả ngày xưa). Các vị trí thức nên nhớ rằng, ĐảngCSVN xưa nay đều dùng bạo lực đểduy trì quyền lực của đảng mà bấtchấp lòng dân, lịch sử đảng CSVN có thuận lòng dân bao giờ? Họ chỉ mỵdân. Ngày nay với truyền thông rộngrãi, CSVN không còn mỵ dân được nữa thì đành phải lộ bộ mặt độc tàitàn bạo ra để dân chúng sợ.Có thể nói rằng đảng CSVN đang sợnhững tiếng nói phản đối, phản khángtừ khắp nơi ở quốc nội và hải ngoại. Khi những tiếng nói này ngày càngnhiều sẽ là sự thể hiện của lòng dân. Lòng dân là một uy lực mà bất cứ nhàcầm quyền nào cũng phải sợ. Vì mọithứ quyền lực sẽ trở thành con số không nếu người dân không hợp tácvà không tuân theo. Phở PASTEURHIỀN VƯƠNG(714) 539-78889892 Westminster Ave. #315Garden Grove, CA 92844THANH SƠN TOFULÒ ĐẬU HŨ(714) 534-21009688 Westminster Ave.Garden Grove, CA 92844TOBIA CASKETNGUYỄN THIÊM(714) 894-372313951 Newland St.Westminster, CA 92683Ban Vận Động Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Cộngwww.chongtaudvietcong.wordpress.com chongtaudvietcong573@yahoo.com(714) 398-9641KHỐI 8406 NAM CALIkhoi8406namcali@yahoo.comCÁC CƠ SỞ THƯƠNG MẠI BẢO TRỢ