22.4.13

30 THÁNG TƯ, MẤT NƯỚC, MẤT NHƠN QUYỀN,

MẤT NHƠN PHẨM :

NHƠN QUYỀN, MỘT QUAN NIỆM CÒN XA LẠ Ở VIỆT NAM ?



Phan Văn Song

Quyền con người, quyền tự nhiên, quyền cổ điển?:

Quyền Tư Tưởng, Quyền Đi Lại, Quyền Thông Tin, Quyền Ngôn Luận, …và  nhiều nữa, tất cả những “quyền xưa” ấy, “quyền cổ điển” ấy, “quyền ai cũng biết rồi, khổ lắm nói mãi” ấy, ngày nay ở sống Âu Mỹ, chúng ta hầu như không ai nói đến, không ai nghĩ đến, chúng ta sử dụng các quyền ấy một cách tự nhiên, chúng ta thản nhiên sống với những quyền ấy, trong những sinh hoạt hằng ngày, trong cả những cử chỉ hằng ngày, chúng ta chỉ cảm nhận được, biết được, và chỉ phẫn nộ, hay đấu tranh đòi hỏi, khi một ai đó dám “ xâm phạm”.
Trái lại, chúng ta, ngày nay ở Pháp, ở Âu châu, ở Mỹ, đấu tranh, bàn cãi, tranh luận cho các quyền của các thành phần “thiểu số” trong xã hội. Trong các xã hội Âu Mỹ ngày nay, (chỉ có Âu Mỹ, và dĩ nhiên có cả Úc và Tân Tây Lan nữa, xin lỗi các độc giả ở Úc, chúng tôi không quên quý vị đâu khi nói đến Âu Mỹ hay phương Tây!), các xã hội ấy được chia xếp thành nhiều thành phần đa dạng, với nhiều đòi hỏi đặc biệt, với các đặc quyền đặc lợi. Chia theo thứ tự hàng dọc, trên dưới giai cấp giàu nghèo, bằng cấp, “cổ trắng” hay “cổ xanh”, nhưng cũng chia theo hàng ngang, theo cộng đồng, tùy mầu da, tùy chủng tộc, tùy thời gian tỵ nạn, tùy hội nhập, cư ngụ tùy vùng…chia theo Tôn giáo, chia theo tập quán tình dục (đồng tình luyến ái) chia theo cả mập ốm, béo tròn … Ngày nay, người Âu Mỹ sợ “kỳ thị ” đủ mọi thứ… từ tên tuổi, già trẻ (có những chỗ công cộng chống trẻ con, có nơi chống người già, có nơi chống súc vật), đến nhơn danh sức khỏe, cấm hút thuốc, cấm ăn mỡ, cấm uống rượu… Những quyền đặc biệt các thành phần “thiểu số” ấy phải  được phát biểu, ít ra phải được đem ra tranh luận, biểu quyết, thậm chí là những đề tài đấu tranh, tranh cử…
Thử  thí  dụ  về   “quyền Đàn Bà” (dưới cái đề tài chung chung “Đàn bà”, nhiều tiết mục khác nhau cho nhiều Quyền khác nhau, và đấu tranh khác nhau. Khi thì “Nam nữ bình quyền” đơn thuần: Nam nữ bình quyền trong  - nghể nghiệp - lương bổng - chức vụ… Nhưng có khi là những quyền lợi bảo vệ đặc biệt cho cái  “đặc biệt” của người Đàn bà: sinh đẻ, nuôi con, quyền thụ thai như ý muốn - lúc nào, thời gian nào - cả quyền phá thai nữa – cả quyền thụ thai có con như không có đàn ông (Thụ thai Nhơn tạo, từ ngữ dịch sai, thụ thai lúc nào cũng Nhơn Tạo, hổng có Nhơn làm sao có thai?) Cùng song song với quyền Phụ nữ, “Quyền Thai nhi”, bao nhiêu tuổi thai nhi có quyền, khi mới thụ thai?, một tuần?, một tháng?) đấy là những đấu tranh, đòi hỏi, tranh chấp, trong thế giới các quốc gia tiên tiến! …Còn đối với các quốc gia chậm tiến, trong ấy có cả Việt Nam chúng ta, những cuộc đấu tranh nhằm cho những “bảo vệ nhơn phẩm người phụ nữ ” chống lại những tập tục hủ lậu các nước chậm tiến: nào là cưỡng hôn, tảo hôn, ấu hôn, mua trinh, giá trị của màn trinh, cắt quy đầu âm hộ, may âm hộ, .... nào là mua bán phụ nữ… Đấu tranh nhằm bảo vệ vai trò người đàn bà trong gia đình, bịt mặt, bịt đầu, đàn bà không được ra đường một mình, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” của Khổng giáo hủ Nho….Ngày nay nếu  Quyền “làm lễ hôn phối giữa người đồng tính” tạo xì căng đan cho mọi xã hội, thì Quyền phải “có nhà ở” cho mọi công dân, Quyền một người ngoại quốc “di trú” được bầu cử, Quyền được “lánh nạn”…là những bước tiến đáng để chúng ta suy nghĩ!  
Thế giới phương Tây ngày nay đưa nhiều  ý kiến, nhiều quan điểm đấu tranh về Nhơn quyền. Nhiều đến một anh bạn người Syrie, tỵ nạn chánh trị không hiểu được, anh bảo, làm sao dân Syrie chúng tao làm cách mạng Dân chủ, đòi hỏi tôn trọng Nhơn quyền được? Khi tụi bay, (nói chuyện với người viết) bảo Nhơn quyên có cả quyền các con vợ có quyền ngang chồng trong gia đình, dám bàn cải với chồng, không nghe lời chồng. Khi cả các thằng “đồng tình luyến ái” được quyền sống tự do cái mà Chúa cấm (Chúa của Hồi giáo), nay lại đòi làm lễ hôn phối mà cũng không nhốt, không bỏ tù, ở xứ tao là tụi tao treo cổ vì phạm tội Chúa? Khi mình, người viết trả lời rằng, đàn bà là 50%, có khi 60% nhơn loại, và những người đồng tình luyến ái cũng là con người, cũng là Con Chúa, cũng là anh em chúng ta, và nếu họ cần yêu người đồng tính, họ chỉ tìm hạnh phúc với người đồng giới tính, là biết đâu, đó là do ý Chúa. Nếu thật sự các anh là những người ngoan đạo, thì các anh phải thương yêu tất cả… như tình yêu Thiên Chúa thương yêu tất cả nhơn loại. Anh bạn người Syrie đến nay vẫn không hiểu mình, khi mình nói Dân chủ việc đầu tiên là nghe ý kiến người khác, và nếu mình không đồng ý vẫn tôn trọng ý kiến người khác, Dân chủ là những dị biệt, những bất đồng sống cạnh nhau, không bắt buộc phải hòa hợp với nhau? Trao đổi, thông cảm, tương kính, và phục vụ cho một cộng đồng chung,  vì đó là trật tự xã hội.
Người viết xin kể  với quý độc giả câu chuyện trên để chứng mình rằng quan niệm Dân chủ còn rất xa vời với nhiều dân tộc, nhiều văn hóa khác nhau. Người bạn Syrie của tôi là một anh chiến sĩ Dân chủ đáng khen, đáng nể phục, chống độc tài Bachar al-Assad, anh thường kể cho tôi biết những giấc mơ Dân chủ của anh, anh có những giấc mơ dân tộc Syrie được những Quyền con người, Quyền công dân, những Quyền “tuy rất xưa của thế giới phương Tây”  như “Quyền ngôn luận”, “Quyền bầu cử”, “Quyền đi lại”, quyền, quyền… Nhưng anh không đồng ý với vài cái quyền, anh tranh luận với tôi về “Nam nữ bình quyền”, anh chấp nhận “có thể” có đàn bà làm đại biểu, dân biểu Quốc hội, nhưng chỉ “đại diện khối Đàn bà”,  “đại diện tiếng nói phụ nữ”, anh chấp nhận đán bà đi học, có bằng cấp, nhưng chỉ trong những ngành nghề  “đàn bà”, như đàn bà “có thể” làm Bác sĩ “để chữa bịnh, khám bịnh đàn bà”, làm Cô giáo, làm cô Hộ sinh… Ráng lắm, anh chấp nhận cho đàn bà làm Tổng Bộ trưởng các Bộ  “Đàn bà”, các Bộ “Gia đình”… Ráng thêm tí nữa… Bộ  “Xã hội” hay Bộ “Y tế” Chứ các Bộ Kinh tế, Quốc Phòng, hay Thủ Tướng thì … Đàn bà biết cái gì mà làm! Và đến cả ngày nay, anh tỵ nạn ở Pháp, từ hơn 6 tháng nay, sống trong một gia đình người Pháp, rất tiến bộ, …anh vẫn tiếp tục trình bày say sưa những quan niệm ấy, mặc dù anh có kiến thức đại học, mặc dù anh là một chiến sĩ Dân chủ, mặc dù anh đã ở Syrie, độc tài, đánh nhau, vào sinh ra tử … Anh hiện bị thương, cụt một chân, anh về dưỡng thương ở một gia đình người Pháp ủng hộ phong trào kháng chiến Syrie quen với chúng tôi. Tôi thường đến thăm gia đình ấy vì cùng họ đạo (Tin Lành), và do đó làm quen với anh bạn người Syrie nầy. Qua kiến thức anh bạn người Syrie nầy, tôi đo lường được các khoảng cách khổng lồ giữa ý thức chánh trị và quan niệm Dân chủ của thế giới thứ ba chậm tiến và các quốc gia tiên tiến Âu Mỹ. Cá nhơn chúng tôi tự hỏi: “những đấu tranh chống độc tài, những cách mạng màu các quốc gia cựu Sô Viết, những cách mạng Hoa Lài, những nổi dậy Á Rập, những mùa xuân Á Rập có phải thật sự là những đấu tranh đòi Dân chủ, đòi Nhơn quyền, đòi quyền Tự quyết cho người dân hay chỉ là những bạo động cướp chánh quyền của nhóm nầy chống nhóm nọ, của phe nầy chống phe kia, giành giựt quyền lợi. Dân chủ, Nhơn quyền? Tự do, Độc lập chỉ là những bánh vẽ, những chiêu bài rỗng tuếch bán cho người dân, những nạn nhơn muôn thuở của muôn cuộc Cách mạng, của muôn cuộc Chiến?”. Hỏi để mong quý vị trả lời giùm.
Ấy là chúng tôi, người viết không dùng chữ “tự do ”, đi với chữ “quyền” vì đối với cái suy nghĩ của những công dân các quốc gia tiên tiến, dùng thêm từ “tự do” với từ “quyền” biến thành điệp ngữ “pléonasme”, đúng hơn là điệp ý. Việt Nam ta đấu tranh đòi Tự do Ngôn luận, Tự do Tư tưởng…Đòi như vậy, Nhà nước Cộng sản cầm quyền sẽ trả lời, và đã trả lời rằng “Người dânn Việt Nam có quyền chứ! Có tất cả mọi quyền, nhưng không được tự do lung tung đó thôi. Quan niệm vả từ ngữ “lề phải” xuất phát do từ đấy. Để so sánh Nhà cầm quyên Việt Cộng ưa dùng từ ngữ “Dân chủ Đa nguyên”, để nói họ vẫn Dân chủ nhưng họ vì Đảng nên Độc Đảng thôi! Dân chủ phải là Đa Nguyên, Đa Ý, Đa quan điểm, Đó là cái tự nhiên! Nói Dân chủ Đa nguyên là điệp ý và tai hại hơn mở cửa cho Việt Cộng náo bướng nói láo, cãi chầy cãi cối! Như vậy:
Đòi Quyền, là đủ rồi… Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhơn Quyền đã nói chữ quyền là đủ rồi. Quyền là cái điều tự nhiên của Con Người. Tại sao phải thêm chữ Tự do, chỉ vì anh cấm cái quyền tự nhiên của tôi.

Lịch sử Nhơn Quyền:

Hôm nay, ta ôn cố để nói rằng những cái “quyền mà ta cho là xưa” là cổ điển ấy, cũng không tự nhiên mà có. Nó là cả một gia tài trong một gia phả đấu tranh, một lịch sử dài phát xuất từ gốc Judéo-chrétien – Do Thái cơ đốc giáo, và đặc biệt do các cuộc đấu tranh của các phái Cơ đốc Tin Lành.
Những người đầu tiên  đòi nhơn quyền, đòi quyền tự do tư tưởng cho những người ngoài Thiên Chúa giáo là những nhà truyền giáo người Tây Ba Nha, Giòng Tên – Jésuites, Thiên Chúa giáo La Mã, trong thời kỳ xâm chiếm các thuộc địa ở Nam Mỹ: Anton de Montesinos, Francisco de Vittoria và đặc biệt Bartolomé de Las Casas, ba vị ấy lập ra nhóm “Trường phái Salamanque”. Chính ba nhà truyền giáo ấy đã đứng ra bào vệ những thổ dân Nam Mỹ (Indios-Việt Ngữ dịch sai là Mọi Da đỏ) không để các nhóm di dân gốc Âu châu khai thác họ và biến họ thành những người nô lệ. Những Quyền mà Vittoria bảo vệ và đòi hỏi cho thổ dân Nam Mỹ là Quyền được (tự do) đi lại, Quyền tư hữu, Quyền có thể tậu nhà, tậu gia sản, đất đai, Quyền bình đẳng như một công dân khác và Quyền không được một ai đuổi họ ra khỏi nơi họ cư ngụ, nhà vườn, tài sản ( rf  thử so sánh: chuyện Đoàn Văn Vươn ở Việt Nam ngày nay)
Những tư tưởng của Vittoria đã giúp linh mục Giòng Tên - Jésuite Francisco Suarez (1548-1617), một nhà hiền triết, một nhà thần học, một luật gia, được người đời  thường so sánh với Saint Thomas d’Aquin (1225-1274). Francisco Suarez với Luận án Tractatus de Legisbus ac de Deo legislatore – Luân về Luật và Chúa, Người làm Luật, Ngài được xem là cha đẻ của Luật Quốc tế, Ngài cũng tuyên bố rằng các lãnh thổ của dân bản địa Indio từ nay là đất bất khả xâm phạm, không một vương quyền nào kể cả Vua Y Pha Nho, kể cả ông Giáo Hoàng, không một di dân gốc Âu châu nào có quyền xâm phạm, người bản địa Indio sanh đẻ trên đất nước mình có mọi Quyền như một di dân Âu châu Thiên Chúa giáo.

Anh Quốc, Mỹ Quốc, Pháp Quốc:

John Locke (1632 -1704), một nhà triết học, hưởng tinh thần và giáo huấn của cha mẹ, một gia đìnhTin lành ngoan đạo, ủng hộ phe ông hoàng Tin Lành Anh Giáo Guillaume d’Orange-Nassau (1650-1702) trong cuộc tranh chấp Ngai Vua Anh Quốc từ 1660 đến 1689. Khi lên được ngôi năm 1689 Ngài lấy tên là Vua Guillaume III. Trước đó Ngai Vua Anh quốc do Charles II 1660-1685 và Jacques II 1665-1688, gốc Thiên Chúa Giáo La Mã.
John Locke phục vụ cho Vua mới, đặt những viên đá đầu tiên cho một “Nhà Nước Pháp Trị”: “mỗi người đều được hưởng những quyền do xã hôi do Nhà Vua (Nhà Nước) tạo lập, tôn trọng và khởi xướng”. Tư tưởng của John Locke đã giúp đỡ tạo thành Bản Tuyên Ngôn Nhơn Quyền đầu tiên của lịch sử nhơn loại, năm 1689: the Bill of Rights.
Bill of Rights nhìn nhận một số quyền cho người công dân và người thường trú trong một nền quân chủ lập hiến và quan trọng hơn cả, ngăn chận một phần các quyền hạn của Nhà Vua để trao trả cho người dân qua nhóm đại diện là Quốc hội.
Nếu chúng ta có dịp đọc kỹ bản văn Bill of Rights nầy, chúng ta sẽ thấy sự ảnh hưởng sâu xa của cuộc nội chiến Tôn giáo đã xâu xé lịch sử Anh Quốc suốt thế kỷ thứ 17. Thật vậy đây là một bản văn do phe ttắng trận viết. Cũng vì phe thắng trận là phe Tin Lành, nên người Tin Lành nhấn mạnh rằng từ nay, sẽ không chấp nhận những đàn áp Tôn giáo do Triều đình (bất cứ Tôn giáo nào) đàn áp người Tin Lành (Tự do Tôn Giáo, Tự do Thờ phượng). John Locke rất chú ý,  và nhấn mạnh nhiều lần những điểm nầy.
Bản văn Bill of Rights nầy làm nền tảng
cho Tuyên Ngôn Virginia tháng 6 năm 1776, 
cho Tuyên Ngôn Độc Lập Huê Kỳ ngày 4 tháng 7  năm 1776, do Thomas Jefferson thảo
và Tuyên Ngôn Quyền Con người và Quyền Công dân Pháp  tháng 8 năm 1789.
Những Tuyên Ngôn Huê  kỳ đều do hậu duệ hay chính những thuyền nhơn của chiếc thuyền Mayflower cặp đất Mỹ Tự do, tỵ nạn năm 1620, gồm toàn là những Giáo dân Tin Lành người Anh. Những dân tỵ nạn người Anh nầy đấu tranh để được độc lập đối với Mẫu quốc Anh. Họ đòi Vương triều Anh phải tôn trọng họ, trao cho họ Quyền Ngôn luận, Quyền Tôn giáo và Tâm linh. Bản kêu gọi lòng bao dung Tôn giáo và sự đãi ngộ ôn hòa đối Tôn giáo trong văn phong, trong lời lẽ của bản kêu gọi phản ảnh sự lo lắng của nhóm Tin Lành đối với thái độ gây hấn và đàn áp người Tin Lành của Vương Triều Anh lúc xưa. Làm như Nhơn quyền và những Quyêné Con người chỉ được nói đến trong một không khí đàn áp đầy sợ hãi! Làm như phải nói đến, phải đấu tranh, phải bảo vệ Nhơn quyền, chỉ khi nào Nhơn quyền bị xâm phạm.
Nhưng ngày hôm nay, Nhơn quyền được nói đến nhiều. Nhiều Hiệp hôi quốc tế được ra đời để bảo vệ Nhơn quyền, để quan sát xem ở đâu Nhơn quyền bị xâm phạm. Và cũng như thành ngữ «Quét nhà ra rác». Càng quan sát, càng bảo vệ Nhơn Quyền, càng nhận thấy Nhơn quyền bị đàn áp mỗi ngày một nhiều, và ở những nơi chúng ta không tưởng tượng được.

Nhưng Giáo hôi Vatican chống:

Năm 1776, khi các Tuyên Ngôn Huê kỳ được công bố, Tòa Thánh Roma. Roma phản ứng chống ngay, cho đấy là Tà giáo. Roma cho đấy là kết quả của Tin Lành, chống lại Nhà Thờ La mã. Cũng vì lý do đó mà Tòa Thánh Roma kết án ngay  bản Tuyên Ngôn Pháp ngày 12 tháng 7 năm 1790.  Chính cái điều số 10 là cái điều nguy hiểm nhứt đối vơíi Giáo hội La Mã: Điều 10 Tuyên Ngôn Quyền Con Người và Công dân Pháp cho phép công dân Pháp có quyền Tôn giáo và Tín ngưởng không bị ràng buộc bởi Nhà Nước. Giáo hôi Thiên Chúa Giáo La mã chỉ chấp nhận Quyền Tín ngưỡng nầy sau Công đồng Vatican II ngày 7 tháng 12 năm 1965.

Còn Việt Nam?:

Là một nước Cộng sản Chủ nghĩa và Xã hôi chủ nghĩa, Việt Nam không biết Nhơn quyền là gì cả. Cả người công dân Việt Nam cũng không biết «quyền công dân» của họ có những gì, gồm những gì. Chế độ độc tài, đặt Đảng trên cả Luật lệ, Hiến Pháp, Quốc hội, Nhà Nước… thì là sao biết quyền công dân, quyền con người là gì.
Chế độ Xin/Cho. Mỗi mỗi chuyện, mỗi phải làm đơn Xin. Khi Xin thì được Phép, tức là Cho Phép. Nếu không Xin được thì Mua, mua bằng đút lót, mua bằng bao thư, tất cả đều có giá nói tóm lại tham nhũng.
700 tờ báo, 700 cách để phát biểu ý kiến, nhưng không một tờ  báo tư nhơn nào. Tất cả do Đảng Cộng sản kiểm soát. Kiểm soát Ngôn luận, kiểm soát Thông tin chưa đủ, kiểm soát cả Tư tưởng. Thư riêng, blog là những phát biểu ý kiến riêng không có tầm vóc thông tin cũng bị kiểm duyệt, đi tù. Trung Cộng và Việt Cộng là hai Nhà cầm quyền đàn áp các người sử dụng mạng thông tin tin học. Đàn áp quyền ngôn luận, đàn áp quyền tư tưởng, đàn áp cả quyền tín ngưỡng . Những Nhà thờ Tin Lành miền Thượng du Nam Việt, các Linh mục, các Mục sư, các tu sĩ Hòa Hảo, các tu sĩ Phật giáo đều bị kiểm soát, kiểm duyệt, sai trái có thể đi tù… Kiểm soát các Chùa, kiểm soát các Nhà Thờ, các Nhà Nguyện … buộc phải tu hành một kiểu, cúng kiến một kiểu… Thặm chí Trung Cộng đánh như thế, hạ nhục Nhà Nước Việt Cộng như thế, mà người Việt Nam tử tế vẫn không có quyền bàn tán, có thái độ, tỏ thái độ, phát biểu thái độ, bất mãn, biểu tình phản đối chống bọn Tàu là bị “dùi cui ”, là đi tù, là lãnh án.
Nói tóm lại từ  ngày 30 tháng tư 1975, dưới chế độ cầm quyền của Cộng sản, tất cả những quyền con người vắng bóng hoàn toàn trên dãi đất Việt Nam. Người dân chỉ có những bổn phận đối với Nhà nước Cộng sản, chỉ biết làm ăn, để sinh tồn, để sinh sống. Kiếm ăn, kiếm sống, sinh tồn qua bửa, qua ngày chả khác chi một loài thú vật. Công dân một đất nước không có quyền Trung thành với đất nước, với Tổ quốc, mà chỉ Trung thành với Đảng. Vậy thi quyền công dân ở đâu?
Tình hình kinh tế, vật giá đang leo thang, lạm phát phi mã, dân càng ngày càng nghèo, càng đói. Bất mãn, chống đối càng ngày càng nhiều, nhưng phong trào đấu tranh cho Nhơn quyền vẫn chưa rầm rộ, trái lại phong trào yêu nước càng ngày càng dâng cao, Trung Cộng càng làm nhục ta, lòng dân càng bất mãn. Bất mãn Tàu chưa đủ, phải bất mãn cả với Việt Cộng đã quá hèn kém, không bảo vệ được đất nước, không bảo vệ được dân, để dân ta bị nhục.
Mong rằng nỗi nhục sẽ đưa đến đấu tranh đòi Nhơn quyền, đòi Dân chủ lật đổ Cộng quyền.

Hồi Nhơn Sơn, tháng tư đau nhục 2013.
Phan Văn Song

Hãy Trân Trọng Ý Nghĩa Quốc Hận 30 Tháng Tư

TS Phan Văn Song



1. Ngày Quốc Hận là một Biểu Tượng
Ngày 30 tháng Tư năm 2013 tới đây, chúng ta người Việt Hải Ngoại và một số đông người trong nước cùng kỷ niệm Ngày Tang, Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư, vì Quốc Hận là một Biểu Tượng, một Ngày Tang Lớn cho lịch sử cận đại của Quốc Gia Việt Nam và Dân tộc Việt Nam   
30 tháng Tư năm 1975, quân đội Cộng sản Bắc Việt tràn vào thủ đô Sài gòn. Và ngay ngày ấy, để đánh dấu rằng “họ đã thắng trận”, đã dùng xe tăng ủi sập Dinh Độc Lập, biểu tượng cơ quan lãnh đạo hành chánh tối cao của chế độ và chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Biểu tượng hàng đầu của một chế độ bị ủi sập! Lúc bấy giờ Tổng thống Dương Văn Minh và tất cả nội các của chánh phủ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa đã lên tiếng kêu gọi toàn thể Công Dân Cán Chánh Cán Việt Nam Cộng Hòa bỏ súng ngưng chiến, ở tại chỗ, chờ “người anh em phía bên kia” đến đế tiếp thu cơ sở và dụng cụ, để trao quyền quản trị, trong trật tự và không hỗn loạn. Dinh Độc Lập lúc bấy giờ, cũng như bao cơ sở hành chánh đều mở cửa, mở rào, mở cổng, chờ đón quân đội “phe thắng trận” đến tiếp thu.
Đó là một cử chỉ của một chế độ văn minh. Buông súng không đánh nhau, nhưng vẫn ở tại chỗ, không rã ngũ, tan hàng, giữ trật tự, để tránh những cướp bóc, hôi của, trả thù cá nhơn giữa những láng giềng với nhau. Giữ trật tự, an ninh xã hôi để không có những nạn nhơn giờ “thứ 25”! Nhờ vậy quân đội Cộng sản Bắc Viết tiến vào Sài gòn trong một không khí khá yên ổn. Khác với những cuộc chiến khác ở nhiều quốc gia trên thế giới. Một thí dụ gần đây thôi, ngay ngày đầu tiên khi quân đội Mỹ vào thủ đô Bagdad, dân chúng Bagdad xuống đường hỗn loạn, giết nhau, ăn có, hôi của, cướp của. Thừa nước đục thả câu, Viện Bảo tàng Quốc gia Irak bị dân chúng ùa vào cướp của. Những kỷ niệm, những bảo vật, tài nguyên quốc gia, trưng bày đều bị ăn cắp. Miễn có tý đá quý, miễn có tý vàng tý bạc,  đều bị dân chúng cướp sạch, ngày nay gia tài cổ lịch sử của Irak, một trong những cái nôi văn minh của nhơn loại vẫn chưa hoàn toàn tìm lại đầy đủ. Trái lại, lúc bấy giờ, mặc dù trong tình trạng hỗn quân, hỗn quan, dân chúng Sài gòn, quê hương chúng ta,  tuy cũng có những người nghèo vậy, thậm chí nghèo lắm, nhưng, không một vụ cướp bóc, hôi của, cướp của, hay có chăng thì chắc chắn là rất hiếm vì không nghe một ai nói đến. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vâng lệnh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, mặc dù mới được lãnh nhiệm vụ, vẫn kỹ luật quân đội, vẫn hệ thống quân giai, vâng lệnh, phục tòng, vì đấy là lệnh của vị Tổng Tư lệnh tối cao của mình, đã buông súng, không đánh nhau nữa. Các cổng, các cửa, các ngõ của các cơ quan rộng mở, chờ Quân đội phe thắng trận tiếp thu. Tại sao xe tăng quân đội Cộng sản ủi sập rào Dinh Độc Lập? Nếu không, chỉ để làm nhục?
Đấy là một cử chỉ thiếu Văn Minh. Hay đúng hơn thiếu Văn Hóa! Một cử chỉ của một nhóm người Thất Học!
Đừng trách anh trưởng xa chiến xe tăng ủi sập rào Dinh Độc Lập! Anh trưởng xa chỉ “thiếu tư cách người tử tế” thôi, và, người viết chúng tôi thông cảm, vì chúng ta không thể đòi hỏi một anh nông dân thiếu học, không đủ trình độ văn minh, vì không được huấn luyện,  hiểu được những cử chỉ “anh hùng mã thượng” (gentlemen) hiểu được cái dũng, cái hùng, nhưng vẫn mã thượng của một người sĩ quan, của một người lãnh đạo đoàn thể (leadership), như các sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã được huấn luyện qua các quân trường miền Nam. Nhưng tôi chê trách những người lãnh đạo chế độ Cộng sản, Nhà cầm quyền nước Việt Nam. Từ ngày ấy đến nay, vì mãi đến những ngày sau và mãi đến cả ngày nay, không một vị lãnh đạo nào của chế độ Cộng sản, phe thắng trận, kẻ toàn thắng, được vinh quang trong chiến thắng, nói một lời gọi là “Phải chăng”! “Phải Đạo”! Đó là một cử chỉ thiếu Văn Minh do một Não trạng kém Văn Hóa.
Đó là lý do tại sao Ngày 30 tháng Tư là Ngày Quốc Hận.
Hai địch thủ đánh nhau, thắng thua là chuyện thường tình. Nhưng kẻ thắng người thua vẫn phục nhau, vẫn nể, vẫn trọng nhau. Nội chiến Bắc Nam Mỹ chẳng hạn, khi quân đội miền Nam thua trận, tướng miền Bắc cấm các chiến sĩ miền Bắc không được reo hò, cổ vũ, trân trọng chào các người thua trận, giúp đỡ họ, chia lương thực với họ. Trả lừa, trả ngựa, giúp họ trở về  quê quán với gia đình, có lừa có ngựa để cày để cấy, làm ăn. Quân đội miền Bắc nước Mỹ không làm nhục quân đội miền Nam nước Mỹ. Đó là chuyện Tây. Còn chuyện Ta, trong lịch sử Việt Nam, Vua Lê Lợi khi thắng trận giúp đỡ cho binh sĩ, quân lính nhà Minh trở vế Tàu. Sau trận Thế chiến 2 quân đội Đức thua trận giải ngũ được phe đồng minh thắng trận giúp đỡ trở về quê quán làm ăn, xây dựng lại cuộc đời. Quân đội Nhựt thua trận cũng vậy, cũng được đối đãi tử tế!  Dĩ nhiên quân đội đồng minh thắng trận chiếm đóng Đức quốc, quân đội Mỹ chiếm đóng nước Nhựt. Họ còn chia nước Đức thành 4 vùng quân quản do quân đội 4 quốc gia thắng trận quản trị điều hành. Dĩ nhiên các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp quân đội Đức, vì có tội diệt chủng, đều bị đưa ra Tòa án Nuremberg xử. Luật Pháp, Công lý nhưng đối xử Văn Minh. Và phe Đồng Minh đứng đầu là Huê Kỳ đã xây dựng lại nước Đức thua trận, mặc dù Đức có tội diệt chủng, có tội ác nhơn loại. Và nước Đức nhờ chương trình tái tạo giúp đỡ Marshall ấy đã trở thành một cường quốc Âu châu! Đó là một đối đãi văn minh giữa người thắng trận đối với người thua trận, tuy giữa hai quốc gia khác nhau.
Đằng này, cùng dân Việt Nam, cùng nghĩa đồng bào, thế mà khi Bắc Việt thắng trận đối với Nam Việt, Bắc Việt quyết tâm hạ nhục toàn thể quân dân cán chánh của phe thua trận, đã đành Bắc Việt còn hành hạ, làm nhục đến cả gia đình họ và thậm chí cả đến người dân của cả miền Nam Việt Nam. Xem toàn thể dân miền Nam đều là kẻ thù! Không phải ngẩu nhiên mà dân chúng miền Nam Việt Nam liều chết vượt biên, vượt biển, đi tìm Tự do. Trong 3 người đến bến Tự do, thống kê đoán có thể có 1 người đã chết! Như vậy, ngày nay tại Hải ngoại với 3 triệu người tỵ nạn, chắc phải có 1 triệu người làm mồi cho cá, cho hải tặc…Vì vậy 30 tháng Tư chỉ phải là Quốc Hận thôi !.
Đó là một Biểu Tượng, Để nhớ, để không quên và không bao giờ quên. Đó để làm Một Bổn Phận để Không Quên, để Nhớ – Un Devoir De Mémoire.   
2. Ngày Quốc Hận, một nhức nhối trong chiến thắng Cộng sản
Bộ  máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam muốn ngày 30 tháng Tư là Ngày Cách Mạng thành công, Ngày Giải Phóng toàn dân Việt Nam khỏi …. nhưng đến đây nghẹn họng. Giải Phóng Việt Nam khỏi cái nghèo ư? Không, ngày quân Cộng sản chiếm Sài gòn, Cộng sản đề nghị một mô hình kinh tế tệ hại hơn lúc xưa. Dân Sài gòn suốt đời không biết sắp hàng, không biết phiếu thực phẩm, không biết ăn cơm trộn sắn, không biết bo bo, không biết nghèo, không biết đói… Lúc xưa có nghèo, có cực thiệt ra cũng có,  chứ sắp hàng mua cá “sô”, mua thực phẩm thật là chuyện lạ. .. Giải Phóng Việt Nam khỏi cái kềm kẹp …Mỹ Ngụy ư ?? Lúc xưa khi Mỹ Ngụy kềm kẹt, Sài gòn vẫn có biểu tình, vẫn có đình công đòi chủ tăng lương, báo chí có kiểm duyệt “tự ý đục bỏ” nhưng rất nhiều, hay phần đông báo chí là của  tư nhơn … Báo chí tư nhơn, ký giả tự do nhiều đến nổi có cả báo chí, có cả ký giả “thân Cộng” nữa!
Vì đó, Đảng Cộng sản chỉ muốn Ngày 30 tháng Tư không được gọi là Ngày Quốc Hận nữa. Bằng mọi giá phải xóa bỏ tên nầy. Và tuyên truyền Đảng Cộng sản qua Nghị quyết 36,  bắt đầu láo lếu…Thế nhưng, cũng do đó mà  đã 38 năm qua, tên “Ngày Quốc Hận” vẫn được một số đông đồng bào Hải ngoại và một số không ít người trong nước tiếp tục dùng cho kỷ niệm ngày 30/04 hằng năm, vẫn gọi và tiếp tục gọi, mặc dù có những âm mưu, có thể trong một tinh thần “ngây thơ” nào đó, muốn “xóa bỏ hận thù”, “hòa hợp hòa giải” “hàn gắn” đổi tên Ngày 30 tháng Tư. Và cũng vì vậy, người viêt  vốn “đi đêm sợ ma”, “chim khôn sợ ná” chúng tôi vẫn không tin những gì Việt Cộng nói, vì tôi chỉ nhìn những gì Việt Cộng làm.
Do đó, ngày hôm nay, mặc dù các đại diện đương quyền Cộng sản cùng các đồng bọn phe cầm quyền, và cả đại diện những phe “vệ tinh nhà cầm quyền” cùng đứng lên, gọi là tỉnh ngộ, gọi là hiểu được lòng dân, dựng lên một Phong trào “Cải tổ Hiến Pháp”,  mặc dù  có vẽ lên cái giải pháp gọi là  tiến bộ, gọi là cởi mở, gọi là dân chủ là “Bãi bỏ Điều 4: mặc dù nhứt định không nói tới cái câu “Đảng ta, Đảng Cộng sản phải cầm quyên” đi chăng nữa, thì cái giải pháp cải tổ Hiến Pháp cũng không trả lời được nguyện vọng thực sự của toàn dân!
Vì cái Quốc hội, cái cơ quan dùng để bỏ phiếu đó; cái Quốc Hội, cái cơ quan dùng để giải quyết cái “cải tổ Hiến pháp” đó, nó Bất Chánh. Chúng tôi không dám gọi là “Vi Hiến”.
Vì cái cốt lõi, cái bản chất thực sự của bản Hiến Pháp, và tất cả những Hiến Pháp của tất cả những chế độ Việt Nam Cộng sản đều Vi hiến cả!. Vi Hiến bởi vì không được một quốc hội thật sự dân chủ (gồm các đại diện được toàn dân bầu lên, các đại diện phải được phản ảnh toàn bộ các thành phần của dân chúng, từ các thành phần giai cấp, đến sắc tộc, giáo phái, hội đoàn, đảng phái…) bỏ phiếu chấp thuận. Cha mẹ không có căn cước lý lịch đàng hoàng chánh thống, thì đứa con, sản phẩm làm sao có chánh thống.
Từ ngay những ngày đầu năm 1945 với Hiến Pháp 1946 đến ngày nay, qua hai chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tất cả đều do phe Cộng sản chủ mưu độc diễn, độc thoại, độc tài, độc quyền. Vì Tòa đại diện dân là Quốc hội, không chánh thống, vì không phải do toàn dân bầu mà chỉ một bộ phận nhỏ được chỉ định bầu thôi, bộ phận do Đảng Cộng sản chi phối và chỉ đạo. Vì không chánh thống nên không được hợp pháp dân chủ. Quốc hội ấy đẻ ra Hiến Pháp ấy, và nay, cũng một lò, lại Quốc hội ấy lại sẽ đẻ ra một Cải tố Hiến Pháp để cho ra lò một cái Hiến Pháp mới! Thật là quanh quẩn chỉ là một Con rắn đang tự nuốt cái đuôi của mình! – C’est un serpent qui se mord la queue!
Và do đó, ngày hôm nay, dù quý vị ở  Hải ngoại có thành tâm, có thiện chí, hay “ngây thơ” đi tìm một giài pháp để hạ căng thẳng? Ðể người dân trong ngoài nước dễ nói chuyện với nhau? Nên có những đề nghị thay tên gọi Ngày 30 tháng Tư, có kẻ đề nghị gọi là Ngày Tự Do, lại có người đề nghị gọi là Ngày Thuyền Nhơn? Còn có cả những người muốn biến Ngày 30 tháng Tư làm một Ngày Riêng biệt cho Miền Nam! Vận động nhờ Quốc hội Mỹ ra Nghị quyết gọi “Ngày Nam Việt Nam”! Nhưng để làm chi vậy?  
Có lẽ, họ SỢ cái tên “QUỐC HẬN”?  – vì không thích cái chữ “Quốc Hận”? –  hay SỢ đến không dám nói, đọc, nghĩ đến chữ “Quốc Hận”?  Có phải chăng vì
Ngày 30 tháng Tư là một Ngày Tang cho tất cả dân Việt Nam? Nên mới là Ngày Quốc Hận!
3. Ngày 30 tháng Tư cũng là ngày mà cả NướcViệt Nam bị lường gạt?
Dân miền Bắc đã đành! vì “cá nằm trong rọ”, tuổi già bị đấu tố, tuổi trẻ thanh niên thanh nữ bị nướng trên đường mòn Trường Sơn, sanh Bắc tử Nam, bị hy sanh, cho chế độ, vì chế độ! Độc tài, khát máu đã đành, còn nói láo, nói dối,  rằng phải Giải Phóng miền Nam, cứu đói miền Nam, nuôi dân miền Nam… Nhưng khi vào đến Nam rồi thì hởi ôi! muộn rồi, khi biết được, hiểu được rằng mình bị gạt bèn, hoặc có người, thì ngồi khóc cho thân phận khốn nạn bị lường gạt mất cả tuổi thanh xuân (Dương Thu Hương), hoặc có kẻ, thì trước hay sau gì một thời gian, ngắn dài nào đó, nín thở qua sông, cũng phải …  tỉnh ngộ (Bùi Tín, Võ Nhơn Trí, Vũ Thư Hiên, Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn, Tô Hoài …từ những lớp cán bộ đảng viên già đến những cán bộ đảng viên trẻ, hay cả những người trẻ đấu tranh dân chủ ngày nay).
Nhà cầm quyền Việt Cộng trong nước muốn Ngày 30 tháng Tư là Ngày Đại Thắng Mỹ.
Nhưng Sai! Láo! Ngày hôm ấy làm gì còn có quân  đội Mỹ mà thắng!
Ngày 30 tháng Tư quân đội Cộng sản Bắc Việt không có thắng quân đội Mỹ. Hiệp đinh Paris ngày 23 tháng Giêng 1973 đã kết thúc chiến tranh Việt Nam. Quân đội đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa và quân đội Mỹ không còn có mặt ở Việt Nam bắt đầu từ ngày ấy rồi. Ngày 30 tháng Tư, chỉ là ngày Bắc Việt nuốt lời ký kết Hiệp định Paris: “là đình chiến tại chỗ, là ai ở tại chỗ đó, không thêm vũ khí không thêm quân và ngưng bắn…”, xua quân ồ ạt cưỡng chiếm Nam Việt. Ngày 30 tháng Tư là ngày toàn bộ Dân tộc Việt Nam bị lường gạt, nhưng dân chúng Nam Việt là những nạn nhơn nặng nhứt. Bằng chứng nếu thật sự Giải phóng Miền Nam đang bị Mỹ kềm kẹp tại sao phải bắt giam quân dân cán chánh, nhơn viên chánh quyền miền Nam? Nếu đó là một chánh quyền bị cầm kẹp?. Tại sao phải đuổi người dân đi về nông thôn, giải tỏa thành phố, hành hạ dân chúng các thành phố? Có phải là sợ dân thành phố nổi loạn chăng? Giải Phóng? Không, đúng hơn Xâm chiếm. 
Trong lịch sử cận đại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hai lần lường gạt dân.
Lần thứ nhứt, nói: “Ngày 2 tháng 9 là Ngày Cướp Chánh quyền, lấy lại Độc lập từ Pháp”. Sai!  Hô Chí Minh và đồng bọn đã cướp chánh quyền chánh thống từ tay Vua Bảo Đại.  Nhà Nguyễn đã lấy lại Độc lập, sau khi chế độ thực dân Pháp đã bị sụp đổ. Chế độ Thực dân Pháp đã sụp đổ ngay khi trục Nhựt – Đức – Ý, thắng quân Anh – Pháp năm 1940. Nhựt đã chiếm và kiểm soát toàn cỏi Đông dương rồi, nhà cầm quyền Pháp sở tại là thuộc chánh phủ bại trận Pháp là Nhà nước Vichy, làm tay sai cho giặc ở Âu Châu với Đức và ở Đông dương với Nhựt. (Gọi Chánh quyền Vichy vì cơ quan hành chánh trung ương của Thống chế bại trận Pétain đặt tại thành phố Vichy – thủ đô Paris của Pháp bại trận đặt dưới quyền quân quản của Quân đội Đức). Như vậy không phải chỉ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhựt mới làm chủ Đông dương (xin nhắc lại một lần nữa là chế độ thuộc địa Pháp đã mất quyền từ năm 1940). Sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, vì toàn quyền Đông dương đã mất chức. Nhựt Bổn không có ý định xâm chiếm Đông dương thay thế Pháp, nên đã đề nghị trả Độc lập cho Vua Bảo Đại. Đó là chánh thống, Pháp cướp Việt Nam trong tay Nhà Nguyễn, nay Nhà Nguyễn lấy lại Độc lập cho Việt Nam vì Việt Nam ngày ấy không còn chánh quyền nữa. Chẳng những lấy lại Độc lập Vua Bảo Đại còn tuyên bố bãi bỏ mọi Hiệp Ước ký kết với nước Pháp lúc xưa. Bằng lời tuyên bố trên bằng hành động trên Vua Bảo Đại đã lấy lại chủ quyền cho Việt Nam ngày 10 tháng 3 năm 1945. 
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cướp chánh quyền Vua Bảo Đại và Chánh phủ Trần Trọng Kim.
Lần thứ hai là Ngày 30 tháng Tư năm 1975, Bắc Việt đơn phương xé bỏ Hiệp định Paris cưỡng chiếm miền Nam.
Vì  những lý do trên, chúng ta không thể thay tên đổi tánh Ngày Quốc Hận 30/4  được! Cũng như dân Do Thái với Shoa, hay Holocauste, hằng năm họ tưởng nhớ đến những năm tháng dân Do Thái ở Âu Châu bị NaZi Quốc Xã tàn sát. Dân Do Thái nhớ ngày Shoah. Lễ Tang Shoah để không quên 6 triệu người Do Thái bị giết. Chúng ta cũng không bao giờ quên Ngày Quốc Hận 30/4.
Cũng như các dân Do Thái không quên chiếc thuyền Exodus đưa họ hồi hương, dân Huê Kỳ nhớ ơn chiếc Thuyền Mayflower đưa họ đến đất Mỹ. Chúng ta dân Việt Nam Hải ngoại tỵ nạn Cộng sản cũng sẽ không quên làm lễ Tạ Ơn Ngày Thuyền Nhơn, nơi đây, cộng đồng tỵ nạn Đức không quên thuyền Cap Adamur ; nơi kia, cộng đồng tỵ nạn ở Pháp không quên thuyền Ile de Lumière – Đảo Ánh Sáng…Tất cả vì  Bổn phận Không Quên – Devoir De Mémoire.
Và  cũng vì Bổn Phận Không Quên – Devoir de Mémoire.
Ngày Quốc Hận mãi mãi sẽ là Ngày Quốc Hận,
Mãi mãi trong Trí nhớ của người Việt Nam muôn thuở,
Đời đời, mãi mãi, Ngày Quốc Hận sẽ ghi trong lịch sử Việt Nam
Để không bao giờ tái diễn nữa.
Hồi Nhơn Sơn, tháng tư đen thứ 38. 15/04/13
TS Phan Văn Song

21.4.13

LỄ HỘI QUAN ÂM – NGÀY HÀNH HƯƠNG VÀ  CẦU NGUYỆN NĂM THỨ 13, ÐƯỢC TRUNG TÂM PHẬT GIÁO  – 
CHÙA VIỆT NAM TỔ CHỨC VÔ CÙNG TRANG NGHIÊM, TRỌNG THỂ

PV/Thế Giới

Hơn ba trăm (300) Tăng, Ni khắp các tiểu bang Hoa Kỳ và  thế giới cùng với hàng ngàn ngàn Phật tử và  đồng hương đã qui tụ về Chùa Việt Nam trong hai ngày 29 và 30 tháng 3 năm 2013 dự đại lễ Quan Âm –Hành Hương và Cầu nguyện. Ngoài ra, còn có sự hiện diện của các cơ quan truyền thông, báo chí, chính quyền địa phương: Linh mục Phạm Hữu Tâm, ông McClelland -Cảnh Sát Trưởng thành phố Houston, ông Dân biểu Tiểu bang Hubert Võ, Ls Teresa Ngọc Hoàng- Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận, và Quan khách từ các tôn giáo bạn.

Ðại lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu nhân lúc ban đạo từ tán than công đức chư Tăng Ni, Phật tử đã thành tựu lễ hội viên mãn, và cầu nguyện Mẹ hiền Quan Âm từ bi cứu độ cho thế giới được hòa bình, chúng sanh an lạc; ngài cũng cầu nguyện cho tình đoàn kết của đồng bào trong ngoài nước và ước mong đồng bào sẽ cùng nhau đứng lên đòi đảng CSVN phải hủy Ðiều 4 Hiến Pháp và sớm giải thể chế độ cộng sản trên quê hương đất nước thì mới mong bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải cho Tổ quốc.

Hoà Thượng Thích Nguyên Hạnh, trong Lời Tưởng Niệm trong đêm Thứ Sáu 29/3/13 và Lời Cầu Nguyện trong Ðạo Tràng Linh Hiển “Ngàn Mắt Ngàn Tay” Thứ Bảy 30-3- 2013, đã làm thổn thức hàng ngàn con tim Phật tử, nhiều người không cầm được nước mắt nghĩ đến cảnh ngộ đồng bào sống trong đói lạnh bức bách, cay đắng đến tận cùng, dưới sự cai trị độc tài của chế độ đương thời. (Lời Tưởng Niệm của Hoà Thượng Thích Nguyên Hạnh, Viện Chủ Trung Tâm Phật Giáo – Chùa Việt Nam được trích đăng dưới đây để đồng hương và Phật tử tường lãm):

Lời Tưởng Niệm
(Ðêm 29/3/13)

“Hơn nửa thế kỷ trôi qua, dân tộc chúng con đã triền miên trong thảm họa.

1954. Ðất nước phân ly. Dòng sông Bến Hải ngậm ngùi chia hai mảnh hình hài non sông nước Việt. Lịch sử lại tiếp tục viết lên bằng máu xương và nước mắt đã chảy dài từ bao năm trước.

Ðau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo loét trong lều.
Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế  dật dờ trước ngõ.

Trong hình ảnh đớn đau với ngọn lửa tham tàn chiến tranh thiêu  đốt ấy, 1963, Phật giáo đồ Việt Nam đã đứng lên để kêu đòi quyền sống tự do tín ngưỡng, công bằng xã hội; để cho bên cạnh khói lửa chiến tranh lấy đi bao mạng sống; thì lại cũng đã có bao người xả thân vì đạo, lấy chính mình làm ngọn đuốc soi sáng lương tâm.

Rồi 1975. Một bi kịch mới lại đến với con dân nước Việt. Bom đạn im hơi nhưng nhà tù trải rộng làm cho bao người phải ngậm hờn tức tưởi bỏ mình trong ngục tối âm u. Ðất nước thống nhất mà lòng người ly tán khiến cho bao kẻ phải nước ra đi, vượt biên vượt biển mà lâm cảnh xác bỏ rừng hoang, thây chìm biển lạnh.

Áp bức đọa đày. Oan tình đầy dẫy. Hỡi ôi! Cả một lịch sử đoạn trường của một dân tộc kiêu hùng bị kềm hãm trong trùng vây của chủ nghĩa bạo hành và những thế lực thời đại. Cả một chuỗi dài oan khiên của những con người hiền hòa bị trói bằng sợi dây thù hận. Thương đạo, thương đời, thương dân, thương nước, bao người sống đã chẳng cam lòng với cảnh ngộ; để rồi chết đi, âm dương đôi đường, mịt mù mây khói, nào ai biết được, hồn giờ ở đâu.

Thôi thì,
“Trong trường dạ tối tăm trời đất
Có khôn thiêng phảng phất u minh”
mà về đây trong giờ phút thiêng liêng ngày Lễ Hội Quan Âm này để xin nhận lấy tấm lòng tưởng niệm của những người còn sống hôm nay.

Một nén hương này xin tưởng niệm đến những con người bất hạnh đã ra đi trong lao tù khổ ải hay đã bỏ mình trên đường vượt biển vượt biên.
Một nén hương này xin tưởng niệm đến những con người đã hy sinh vì nghĩa cả cho nền đạo của tổ tiên, tự do của dân tộc, sự sống của giống nòi.

Và  một nén hương này xin tưởng niệm đến các bậc Thầy Tổ, mẹ cha, anh em, bè bạn và tất cả đồng bào đã nằm xuống trong cả một thời non nước điêu linh đầy oan nghiệp của chặng đường hơn 50 năm ngắn ngủi mà đầy nỗi đớn đau này.

18.4.13

HÃY VINH DANH NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA

HÃY VINH DANH NGƯỜI LÍNH

VIỆT NAM CỘNG HÒA


Nguyễn thị Thảo An

  

 

 

 

Nước mắt anh không rơi trong ngục tù cộng sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?


Không biết bắt đầu từ thuở nào có  một quy luật hình thành là ở một thể chế  chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vụ giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.
Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
Bắt đầu từ thập niên 60, khi kẻ thù  phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích còng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.
Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã  đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của  đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.
Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã  đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.
Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rữa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.
Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân cộng sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi cộng sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.
Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón tay. Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lõng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.
Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự  phản bội chính mình, để thỏa mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. Và người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hóa rẻ tiền, với đôi guốc vông kẽo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các trung tâm huấn luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.
Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.
Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là  những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.
Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ  vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phũ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến  đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.
Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có những người sẵn sàng giẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.
Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.
Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự  ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí  ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ  nhận định, mù quáng trong định kiến. Tất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
Ngày Hòa Bình, 27 Tháng Giêng năm 1973 Hiệp Ðịnh Paris được ký kết hòa bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hòa bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hòa bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hòa bình bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân  đắp nên thành lũy để ngăn bước quân thù. Từ  Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.
Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân  ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ  ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
Và anh, anh phải đóng trọn vai trò cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ.
Và  đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ?
Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đường đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả Ðịa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ cao nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ  đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.
Bởi lãnh đạo (?) đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? Ngày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?
Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ  lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và  có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế  nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và  gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hòa bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hòa bình không thật đến ở Việt Nam.
Người cộng sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hòa bình, không sống được trong hòa bình thật sự. Như con giun, con dế sợ  ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.
Khởi  đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hòa và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Người lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội cộng sản bước chân vào thành phố, thì người dân quốc gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người cộng sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.
Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người cộng sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.
Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ  chiến trường tù ngục này mà cộng sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ cộng sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẽ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.
chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có  lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. Ðày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.
Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn, anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.
Từ  trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa  đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về  từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở  về:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám  ơn hoa đã vì ta nở
Thế  giới vui từ mỗi lẻ loi
               (Tô Thùy Yên)

Nước mắt anh không rơi trong ngục tù cộng sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?
Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.
Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có  quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ  tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.
Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ  a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như  người lính Việt Nam Cộng Hòa, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.
Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn hồng thủy của Việt Nam.
Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ  trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.
Ngày nay, người cộng sản ở quê hương với  đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người quốc gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của người lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng người lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.
Ðể một mai, khi quê hương không còn giống cộng sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.
Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề “xây dựng lại đất nước trong thời hậu cộng sản”. Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.
Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hòa... Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.../.

9.3.13

??????????

 

Danh sách này do ba nhiếp ảnh gia hàng đầu Việt Nam hiện nay, Trịnh Quốc Huy, Nguyễn Long, Lê Thanh Tùng bình chọn. Các nhiếp ảnh gia này còn so sánh vẻ đẹp của các kiều nữ với vẻ thanh xuân, tinh khôi, mong manh, hoài cổ…
10 kiều nữ đẹp nhất Việt Nam hiện nay là Hoa hậu Việt Nam 2008 Thùy Dung, Hoa hậu Thế giới người Việt 2010 Diễm My, Hoa hậu đẹp nhất châu Á 2009 Hương Giang, Á hậu Việt Nam 2010 Hoàng My, Người đẹp có gương mặt khả ái Huỳnh Bích Phương, Hoa hậu châu Á 2006 Jennifer Phạm, Á hậu hoàn vũ Việt Nam 2008 Dương Trương Thiên Lý, Hoa hậu Phụ nữ Việt Nam qua ảnh 2002 Thanh Hằng, Vietnam's Next Top Model 2011 Hoàng Thùy và nữ diễn viên điện ảnh Thúy Nga.
Rất nhiều người tán thưởng danh sách này, tuy nhiên, cũng có những người đặt câu hỏi tại sao thiếu Hoa hậu Mai Phương Thúy, Hoa hậu Ngọc Hân, Ngọc Trinh… "Các hoa hậu này đều đẹp nhưng danh sách 10 người có hạn. Hơn nữa, đây là quan điểm riêng của chúng tôi. Xin hãy tôn trọng đánh giá của các nhiếp ảnh gia", đạo diễn hình ảnh Vô Thường, người góp phần quan trọng vào việc chọn ra danh sách 10 người đẹp trên nói.
 
Hoàng My – Hoài cổ
Á hậu Hoàng My sinh năm 1988. Cô sở hữu vẻ đẹp hiện đại với chiều cao 1,71 m và số đo 3 vòng: 85-65-89. Hiện nay, Hoàng My đang là sinh viên Đại học quốc tế RMIT, một trường đại học dành cho tầng lớp thượng lưu.
Tại cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2010 tại Tuần Châu, Hoàng My nổi lên như một ứng cử viên số 1 cho ngôi vị hoa hậu. Tuy không có được vương miện trong đêm chung kết, nhưng cái tên Hoàng My vẫn “nóng”, vẫn được nhắc đến nhiều, ngay cả khi cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2010 đã qua gần một năm. Giữa năm ngoái, cô đã đại diện cho Việt Nam tham dự cuộc thi Hoa hậu hoàn vũ 2011. Ở cuộc thi này, Hoàng My đã không lọt vào Top 15 người đẹp nhất, nhưng cô đã làm được điều mà các hoa hậu Việt Nam trước không làm được, đó là thể hiện sự khỏe khoắn, năng động và tự tin của người phụ nữ Việt Nam hiện đại. Nhiều khán giả còn chia sẻ ý kiến của mình rằng, “dù Hoàng My không tiến sâu trong cuộc thi bằng những thí sinh Việt Nam trước đây, nhưng Hoàng My vẫn được đánh giá cao khi đứng cạnh những thí sinh đó”.
Hoàng My sinh ra và lớn lên trong một gia đình 4 anh chị em ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Hoàng My là con gái thứ 3 trong nhà. Kỷ niệm ấu thơ trong My là những buổi theo mẹ đi bán rau lang, là những món ăn quê kiểng mẹ nấu theo cách riêng đến bây giờ vẫn là những món ngon nhất My từng ăn, là những buổi trưa men theo con đường làng đến trường học… Á hậu Việt Nam 2010 luôn tạo được ấn tượng với người đối diện, ngay cuộc tiếp xúc đầu tiên. Ấn tượng bởi một nụ cười sáng, một vẻ đẹp hiện đại, một phong cách tự tin, và còn ấn tượng bởi sự hài hước, cách kể chuyện lôi cuốn của cô gái trẻ.
 
Hương sắc Hương Giang
Bắt cứ người nào từng gặp Hoa hậu châu Á Hương Giang đều phải thảng thốt lên: "Sao có người đẹp như thế này!". Bởi bên cạnh thân hình chuẩn quốc tế, cô có đôi mắt luôn lấp lánh và nụ cười duyên dáng lạ thường. Có lẽ bởi vậy, Hương Giang đã được đại diện cho nhan sắc Việt tham dự cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2009 dù cô không phải là người đoạt danh hiệu cao nhất tại các cuộc thi nhan sắc trong nước. Và Hương Giang đã làm được hơn cả những kỳ vọng của những người cử cô đi.
Hương Giang trở thành Hoa hậu Việt Nam đầu tiên nhận được giải thưởng và vương miện của tổ chức Global Beauties – website nổi tiếng và uy tín hàng đầu trên thế giới chuyên tổng hợp tin tức, phản ánh, phân tích, dự đoán kết quả về các cuộc thi sắc đẹp quốc tế. Những người đẹp từng đoạt vương miện cao hơn cô như hoa hậu Mai Phương Thúy, Nguyễn Thị Huyền… đều không làm được điều này.
Trước khi trở thành một hoa hậu danh tiếng, Hương Giang có cuộc sống bình thường ở tỉnh Hải Dương. Cô thích báo chí và đã thi đỗ vào khoa Báo chí trường ĐH Quốc gia Hà Nội. Tuy nhiên, sau khi dành vương miện, để tiện cho công việc, Hương Giang đã xin chuyển vào học tại khoa Báo chí trường của ĐH Quốc gia TP.HCM. Dù là một mỹ nhân nổi tiếng nhưng cô chọn cách sống và làm việc nghiêm túc. Những người đã làm việc cùng Hương Giang đều khen thái độ cầu thị và đúng giờ của cô. Hương Giang cũng là một hoa hậu giàu lòng nhân ái khi cô thường xuyên đi từ thiện. Cô đang làm Đại sứ Nụ cười ở Việt Nam cho tổ chức Phẫu thuật nụ cười thế giới.
Năm 2010, Hương Giang đã kết hôn và cô được nhận xét là đẹp hơn xưa. Có vẻ như hôn nhân hạnh phúc giúp Hoa hậu thêm nét tươi tắn trên khuôn mặt.
"Thay đổi lớn nhất là được đi và trải nghiệm nhiều hơn nên hình thành về quan niệm sống cũng già dặn và trưởng thành nhanh hơn. Những chuyến đi làm Giang thấy trân trọng hơn những gì mình đang có và tận hưởng cuộc sống nhiều hơn. Giang không muốn cảm giác sống hoài, sống mòn, nghĩ lại tháng trước, năm trước mình đã làm gì mà không nhớ. Cuộc sống hiện tại cho Giang nhiều cơ hội được cảm nhận những trải nghiệm thú vị", Hương Giang thổ lộ như vậy khi được hỏi về cuộc sống của cô khác với trước như thế nào.
 
Hương sen Huỳnh Bích Phương
Mặc dù không đạt danh hiệu cao trong cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2010 nhưng người đẹp Huỳnh Bích Phương vẫn để lại một dấu ấn khó phai trong lòng khán giả với một vẻ đẹp rất Á Đông, dịu dàng và đằm thắm. Cô còn được gọi là Trương Tử Lâm của Việt Nam khi sở hữu một nhan sắc hao hao giống với Hoa hậu Trung Quốc – Trương Tử Lâm cùng mái tóc chẻ ngôi quen thuộc.
Không chỉ tạo thiện cảm với nét đẹp dịu dàng, Huỳnh Bích Phương còn chiếm được cảm tình của công chúng Việt Nam bởi một phong cách thời trang rất tinh tế và thanh lịch. Hầu như trong bất kỳ sự kiện nào, người ta cũng thấy cô xuất hiện với một diện mạo hoàn hảo từ mái tóc, cách trang điểm và trang phục. Cũng chính vì thế mà cô thường xuyên lọt vào top những người đẹp mặc đẹp nhất tuần.Huỳnh Bích Phương luôn tỏa sáng ở mọi góc nhìn. Có lẽ vì vậy, nhiếp ảnh gia Quốc Huy đã so sánh vẻ đẹp của cô với hoa sen.
Kể về Người đẹp có gương mặt khả ái của cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2010 không thể không nói đến gia thế của cô. Mẹ của Huỳnh Bích Phương hiện là giám đốc công ty bất động sản An Tây. Bố cô là giáo sư Toán học Huỳnh Bá Lân – một người giàu có được xếp hạng ở Việt Nam. Hiện thân phụ của người đẹp đang làm Chủ tịch hội đồng quản trị trường ĐH Tài chính Kế toán. Huỳnh Bích Phương đúng là một tiểu thư lá ngọc cành vàng. Cô là cô dâu mơ ước của các đấng mày râu Việt.
 
Diễm Hương – dịu dàng quê hương
Diễm Hương là sự lựa chọn tuyệt vời nhất cho ngôi vị Hoa hậu Thế giới người Việt 2010. Bởi cô không chỉ có vẻ đẹp ngoại hình nổi trội mà còn được đánh giá là thông minh. Khi được hỏi "Văn miếu Quốc Tử Giám gợi cho bạn ấn tượng gì về văn hóa Việt Nam?”, Diễm Hương tự tin trả lời: “Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nêu cao truyền thống hiếu học của người dân Việt và cũng là niềm tự hào của quốc gia. Việt Nam là một trong những quốc gia có truyền thống hiếu học nhất thế giới và điều đó được minh chứng bằng việc Việt Nam đang khẳng định vị thế trên bản đồ thế giới và được biết tới nhiều hơn”.
Sau khi trở thành Hoa hậu Thế giới người Việt 2010, Diễm Hương còn đại diện cho Việt Nam đi thi Hoa hậu Trái đất và cô đã giành được giải Người đẹp áo tắm và được Website chuyên về sắc đẹp thế giới – Global Beauties.com xếp thứ ba trong danh sách Top 3 Hoa hậu châu Á đẹp nhất từng tham dự các cuộc thi nhan sắc quốc tế trong năm 2010. Sau khi trở thành hoa hậu, Diễm Hương tham gia nhiều cuộc từ thiện. Cô còn là "Đại sứ sữa" của cho trẻ em Việt Nam.
 
Jennifer Phạm đẹp như sương buổi sớm mai
Hoa hậu Jennifer Phạm có một cái tên Việt Nam rất đẹp, Phạm Vũ Phượng Hoàng. Sinh năm 1985 tại TP.HCM, nhưng khi chưa đầy 3 tuổi, Jenni đã theo gia đình sang định cư ở bang Cali, Mỹ.
Jennifer Phạm là trường hợp nhan sắc Việt ở nước ngoài được công chúng trong nước biết tới và quan tâm nhiều nhất bởi vẻ đẹp đầy nữ tính của cô. Cứ nhìn thấy Jennifer Phạm là lập tức người ta nghĩ đến một cô gái đẹp với đôi mắt buồn, vẻ ngoài mong manh, dịu dàng, luôn khiến cho đàn ông khao khát được che chở. Và cô ngày càng đẹp, càng nữ tính hơn.
So với cách đây vài năm, khi mới đăng quang rồi về Việt Nam sinh sống, Jennifer Phạm bây giờ đẹp hơn rất nhiều với phong cách duyên dáng, nữ tính. Điều thú vị nhất là dù sống ở Mỹ từ nhỏ, nhưng Jennifer Phạm lại mang vẻ đẹp và tính cách rất Á Đông, không hề bị “Mỹ hóa”. Không giống như nhiều thanh niên Việt Nam sinh ra và lớn lên ở Mỹ, Jenni là một người rất thuần Việt. Jennifer Phạm nói tiếng Việt rất giỏi, biết nấu nướng, thêu thùa và thích mặc áo dài. Tất cả là nhờ sự giáo dục, bảo ban kỹ càng và chu đáo của ba mẹ.
Cuộc thi Hoa hậu châu Á tại Mỹ 2006 đến giờ vẫn là kỉ niệm ngọt ngào với cô. Lọt vào chung kết với 30 gương mặt đều là Hoa hậu, hoa khôi của các cộng đồng quốc gia châu Á định cư tại Mỹ, Jennifer Phạm khá hoảng vì ai cũng duyên dáng và ứng xử hay. Đứng trên sân khấu rất run, điều duy nhất khiến Jennifer Phạm tự tin và hãnh diện chính là chiếc áo dài dân tộc truyền thống. Khi lọt vào Top 5 rồi được trả lời câu hỏi ứng xử, cô đã thầm bỏ phiếu cho thí sinh Ấn Độ vì câu trả lời quá hay của thí sinh này. Nhưng cuối cùng, phần trả lời của Jennifer Phạm đã được Ban giám khảo đánh giá cao hơn.
Jennifer Phạm vẫn nói mình được đăng quang cuộc thi Hoa hậu châu Á tại Mỹ năm 2006 chính là nhờ ba mẹ. Vì nhờ những câu tục ngữ, ca dao mẹ dạy, nhờ ba mẹ đã chăm chỉ dạy Jenni tiếng Việt, nên trong cuộc thi đó Jenni đã trả lời xuất sắc phần thi ứng xử của mình, với ý thức rất cao về ngôn ngữ dân tộc và nguồn cội.
Kể từ khi về Việt Nam cho đến nay, Jennifer Phạm đã trải qua nhiều sóng gió trong cuộc sống và phải đối diện với những áp lực của một người nổi tiếng. Đó là áp lực khi bị dư luận soi xét khi hôn nhân với Quang Dũng tan vỡ, là những sự cố trong làng giải trí, là những bình phẩm, khen chê của công chúng. Nhưng cô ngày càng mạnh mẽ hơn trong cuộc sống và không bị những khó khăn đó khuất phục.
Sau những đổ vỡ hôn nhân, niềm an ủi và hạnh phúc lớn nhất của Jennifer Phạm chính là bé Bảo Nam. Vì tương lai của con, Jennifer Phạm đã quyết định đưa con sang Mỹ sống cùng ông bà ngoại, với hi vọng Bảo Nam có điều kiện phát triển tốt nhất. Jenni vẫn xót xa vì bình thường ở Việt Nam, những lúc Bảo Nam ốm đau, bị ho hay bị sốt, Jennifer Phạm thường túc trực bên con trai suốt đêm. Nhưng giờ, Bảo Nam ở Mỹ, cô không thể bay ngay về để ở bên cạnh con khi con bị sốt. Đó là điều đau khổ nhất với một người mẹ. Mỗi ngày, Jennifer Phạm đều dành thời gian nói chuyện với con trai và nhìn con trai qua mạng. Chứng kiến bé Bảo Nam ngày càng chững chạc, người lớn, cô vô cùng hạnh phúc và tự hào.
 
Thiên Lý – Thanh xuân
Dương Trương Thiên Lý có vẻ đẹp dịu dàng và trong trẻo tới mức làm bất cứ ai, kể cả đàn ông và đàn bà, nhìn thấy cô đều phải mềm lòng. Giữa rừng người đẹp tham gia cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam bốn năm về trước, Thiên Lý nổi bật với nhan sắc hiếm có ấy. Bởi vậy, dù cô ít nói và luôn khiêm nhường nhưng công chúng vẫn dõi theo từng bước chân của cô. Nhiều người còn cho rằng cô chính là người xứng đáng nhất cho ngôi vị Hoa hậu của cuộc thi này. Tiếc rằng cuối cùng Thiên Lý chỉ giành được ngôi vị Á hậu 2 và giải Người đẹp Ảnh cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2008.
Tuy nhiên, sau đó, chính Thiên Lý chứ không phải Hoa hậu Thùy Lâm, đã được chọn là đại diện của Việt Nam tham dự cuộc thi Hoa hậu Thế giới năm 2008 tổ chức tại Nam Phi. Tại cuộc thi này, cô đã giành giải Thí sinh được yêu thích nhất qua cuộc bình chọn trên mạng. Bên cạnh giải thưởng này, Thiên Lý còn giành được bốn chiến thắng quan trọng: giải 3 thi trình diễn trang phục tự chọn, lọt vào Top 15 người mẫu được bình chọn có hình thể đẹp nhất trong năm, nhận 2 huy chương danh dự trong phần thi áo tắm và thi make up của cuộc thi Tìm kiếm người mẫu tài năng.
Thiên Lý sang Mỹ học từ nhỏ, nhưng cô tự thấy không ảnh hưởng nhiều lối sống Mỹ. "Mỗi dịp hè về với gia đình, Lý thường ngồi tổng hợp lại, suy nghĩ và cảm thấy yêu thích nếp sống, văn hóa của quê hương mình hơn. Nét đẹp truyền thống dân tộc ngày càng trở nên có giá trị trong Lý, bởi em nhận ra, tự do thì tự do, nhưng đạo đức vẫn là trên hết", Thiên Lý nói. Cô cũng cho biết thêm: "Lý là con gái út nên ba mẹ rất ít khi cho ra ngoài đường chơi với bạn. Thường thì các bạn đến chơi nhà".
Thiên Lý đã kết hôn với người mình yêu đầu tiên, doanh nhân Nguyễn Quốc Toàn, một người hơn cô những 27 tuổi, là Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Hoàn Vũ – đơn vị từng đưa cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ về Việt Nam trong năm 2008. Thường thì khi một người đẹp kết hôn với đại gia, thiên hạ sẽ bàn ra tán vào rằng người đẹp ấy tham tiền mà kết hôn. Tuy nhiên, với Thiên Lý thì ngược lại, dư luận cho rằng cô bị đại gia sành sỏi kia… bẫy vào cuộc hôn nhân và nhiều người tỏ ra nuối tiếc cho một nhan sắc như cô. Tuy nhiên, mặc những dư luận ồn ào ấy, Thiên Lý sống hạnh phúc với cuộc hôn nhân của mình và cô ngày càng xinh đẹp hơn.
 
Thuý Nga – Dịu dàng quê hương
Trong danh sách 10 kiều nữ đương thời đẹp nhất Việt Nam hiện nay thì diễn viên Thúy Nga là người duy nhất không có danh hiệu nhan sắc nào. Tuy nhiên, khi đứng cạnh các Hoa hậu, á hậu Việt, cô không bị lu mờ mà ngược lại, luôn nổi bật bởi khuôn mặt thanh tú, mái tóc dài thướt tha và chiều cao và thân hình chuẩn không kém gì các nhan sắc được trao vương miện. Nhiều người đã hỏi Thúy Nga rằng tại sao cô thi Hoa hậu, vì chắc chắn cô sẽ giành được giải cao nhưng người đẹp chỉ cười.
Hiện tại, Thúy Nga là người mẫu và là diễn viên đang được săn đón hiện nay. Cô thường khoe sắc cùng các người đẹp nổi tiếng như Siêu mẫu Phan Như Thảo, Người đẹp khả ái Huỳnh Bích Phương, Hoa hậu Diễm Hương… và các hot boy hàng đầu Việt Nam như Nam vương Tiến Đoàn, Siêu mẫu Hoàng Phi, Siêu mẫu Đức Vĩnh… Các vao diễn của Thúy Nga đều để lại dấu ấn trong lòng khán giả. Đến nay, khi Thúy Nga ra đường, nhiều người vẫn gọi cô là Khánh Hà, một vai diễn của Thúy Nga trong bộ phim Gió nghịch mùa nhiều năm trước. Hiện nay, tuy còn rất trẻ, “gia tài” điện ảnh của Thúy Nga đã khá “nặng”. Cô liên tục góp mặt trong các bộ phim ăn khách hiện nay như Nhất quỷ nhì ma, Lối sống sai lầm, Quý ông thời đại, Không phải tôi…
Thúy Nga từng bị dính nghi án là người tình của Nam vương Tiến Đoàn. Tuy nhiên, cả Thúy Nga và Tiến Đoàn chọn cách im lặng trước dư luận. Vụ việc này đã là đề tài nóng bỏng của dư luận trong một thời gian dài.
 
Thùy Dung – Về nguồn
Thùy Dung đoạt vương miện Hoa hậu Việt Nam 2008 khi cô 18 tuổi. Trong suốt cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008, Thùy Dung luôn được đánh giá là một trong số ít những gương mặt nổi trội nhất. Cô sở hữu một chiều cao lý tưởng, 1,78m, một dáng vóc đẹp và rất chuẩn với các số đo hình thể 86 – 61,5 – 91. Bên cạnh đó, mái tóc dài tới gần đầu gối và khuôn mặt nền nã Á Đông cũng như cách ứng xử mộc mạc của cô đã khuất phục Ban giám khảo và tất cả những người dõi theo cuộc thi nhan sắc này. Trong suốt gần một tháng diễn ra vòng chung kết Hoa hậu Việt Nam 2008, Thùy Dung là một người đẹp nổi bật. Đặc biệt ở phần thi Hoa hậu Ảnh, Thùy Dung gây ấn tượng mạnh với các phóng viên nhiếp ảnh và Ban giám khảo bởi phong thái đằm thắm và vẻ đẹp cuốn hút trong tà áo dài hoa xanh khi tạo dáng bên khung cửa. Bởi vậy, khi tên của cô được xướng lên ở ngôi vị Hoa hậu Việt Nam 2008, không mấy ai ngạc nhiên.
Tuy nhiên, ngay sau khi đăng quang, Thùy Dung bị phanh phui việc chưa tốt nghiệp cấp 3 và bảng điểm mà cô nộp cho Ban tổ chức cuộc thi là giả. Vụ việc này đã làm cho kha khá người phải vò đầu bứt tai và Thùy Dung phải nếm những giọt nước mắt lăn dài. Bởi vì nếu vậy, Thùy Dung không đủ tiêu chuẩn tham gia thi Hoa hậu Việt Nam. Theo Quy chế Tổ chức thi Hoa hậu có hiệu lực từ năm 2006 thì thí sinh dự thi phải tốt nghiệp PTTH và Thùy Dung đứng trước nguy cơ bị tước vương miện. Tuy nhiên, mọi sóng gió rồi cũng qua. Sau đó, Thùy Dung đã học lại lớp 12 và tốt nghiệp với số điểm không được vẻ vang lắm, nhưng là thực lực của cô. Thùy Dung cũng đã hoàn thành nhiệm kỳ Hoa hậu Việt Nam và trao vương miện cho người kế tiếp, Hoa hậu Việt Nam 2010 Ngọc Hân.
Với danh hiệu Hoa hậu Việt Nam, Thùy Dung nhanh chóng thành công trên sàn catwalk. Cô trở thành người mẫu sáng giá của Việt Nam. Bên cạnh đó, Thùy Dung cũng thích cực tham gia công tác từ thiện. Cô đã thăm hỏi và tặng hàng trăm triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo và đồng bào gặp thiên tai tại nhiều địa điểm như: Khoa Nhi – bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM, Trung tâm trẻ em khuyết tật, mồ côi quận 12 – TPHCM, trường trẻ em khuyết tật Thiên Phước…
Tiếp bước hoa hậu đàn chị, Thùy Dung nhanh chóng tỏa sáng bằng vẻ đẹp tiềm ẩn. Bẵng đi một năm sau ngày đăng quang, cô đột ngột trở lại và làm bàng hoàng công chúng bởi vẻ đẹp sành điệu, rạng ngời của mình. Không những sang trọng hơn, Thùy Dung còn giữ được phong thái rất tự tin và năng động. Ngay cả khi đứng cạnh những nhan sắc được coi là rạng rỡ nhất Việt Nam hiện nay như Thanh Hằng, Mai Phương Thúy, HHVN 2008 vẫn không hề kém cạnh.
 
Hoàng Thùy mong manh
Hoàng Thùy là một trong những người mẫu vào hàng Top ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, một năm trước, không một người nào và ngay cả Hoàng Thùy nghĩ mình sẽ là người mẫu thời trang. Hoàng Thùy sinh năm 1992, cô đến từ Thanh Hóa, sỡ hữu chiều cao 1,76m cùng số đo chỉ thể 76-58-85 và nặng có 44kg. Cô từng rất tự ti về sự “cao, gầy, ngăm ngăm đen” của mình. Nhưng ở tại cuộc thi Vietnam’s next Top Model, Hoàng Thùy đã lên ngôi một cách thuyết phục dưới sự chứng kiến hàng triệu khán giả xem truyền hình. Hoàng Thùy được nhận xét là luôn giữ vững phong độ qua từng phần thi, tỏa sáng đúng thời điểm. Đây là phần thưởng xứng đáng cho cô gái trẻ đến từ Thanh Hóa với sự nỗ lực hết mình và niềm đam mê thời trang bất tận.
Hình ảnh Hoàng Thùy nói trong tập casting đầu của chương trình “Tôi sẽ là một Next Top Model” đã thành hiện thực. Từ một viên ngọc thô, Hoàng Thùy đã được mài giũa nhờ sự trợ giúp của “bộ tứ quyền lực” cũng như những thử thách của chương trình Vietnam’s Next Top Model để trở thành người mẫu Hoàng Thùy tự tin và chuyên nghiệp của ngày hôm nay.
Sau thành công tại Vietnam’ s Next Top Model, Hoàng Thùy được cử sang Đức tham gia cuộc thi Top Model of The World 2012 và đã giành được giải Trình diễn đẹp nhất. Sau đó, cô sang Paris (Pháp) để tham gia khóa đào tạo ngắn hạn về người mẫu thời trang và đã có buổi tiệc sinh nhật tuổi 20 giản dị trên đại lộ thời trang Champs Elysee. Sự trưởng thành vượt bậc của Hoàng Thùy sau cuộc thi Vietnam’s Next Top Model 2011thật sự là một bất ngờ không chỉ đối với gia đình, bạn bè cô mà còn cả đối với tất cả những khán giả đã và đang theo dõi bước đường của Hoàng Thùy suốt thời gian qua.
Có một câu chuyện mà khi kể về Hoàng Thùy không không nhắc đến, đó là bố cô là thợ chụp ảnh. Bố cô thường dùng những tấm film thừa mà khách hàng không chụp nữa bỏ lại để chụp chị em cô. Biết bố thích chụp ảnh nên cô luôn mong sau này kiếm được tiền sẽ mua máy ảnh để tặng bố. Nên khi tham gia Vietnam’s Next Top Model, mỗi lần giám khảo Xuân Lan đọc giải thưởng là cô liên tưởng ngay đến việc nếu dành được chiến thắng, việc đầu tiên cô làm là mang chiếc máy chụp ảnh giải thưởng tặng ngay cho bố.
 
Thanh Hằng tinh khôi
Thanh Hằng đăng quang ngôi vị Hoa hậu Phụ nữ Việt Nam qua ảnh năm 2002, khi cô 19 tuổi. Đó là một thành quả ngoài sức mong đợi đối với cô gái sinh ra ở bến xe miền Đông Sài Gòn nghèo khó. Chính Thanh Hằng cũng ngỡ ngàng vì thành công đến với mình sớm như vậy. Ngày ấy, Thanh Hằng gầy nhẳng, đen nhẻm và khuôn mặt chẳng có gì nổi bật so với các thí sinh cùng đợt như là những gương mặt đang nổi như Xuân Lan, Anh Thư… Nhưng Thanh Hằng – một cô gái lạ huơ lạ hoắc lại giành chiến thắng. Thanh Hằng lại không sở hữu cái nhan sắc như công chúng muốn, nên cô gặp phải rất nhiều lời xì xào. Nhiều người còn cho rằng, “thí sinh đen thùi lùi” ấy đã mua giải. Chính bản thân Thanh Hằng cũng bất ngờ với ngôi vị hoa hậu có được.
Thế nhưng chỉ sau vài năm, cô Hoa hậu đen thui ngày nào đã có cú lột xác kì diệu. Cô có một vóc dáng hoàn hảo, một gương mặt đẹp ở mọi góc cạnh và nhất là một thần thái mà bất cứ người mẫu nào cũng phải ao ước. Đôi chân dài nhất sàn catwalk (1,12 m) đã nhanh chóng giúp Thanh Hằng trở thành một người mẫu sáng giá. Sau gần 10 năm đăng quang hoa hậu, Thanh Hằng đã là vedette hàng đầu với giá cát-sê cao ngất ngưởng, là một diễn viên giải trí có tiếng, luôn xuất hiện và tỏa sáng trong những sự kiện đình đám.
Tuy nhiên, Thanh Hằng có được thành công rực rỡ ấy không dễ dàng. Cô đã lao vào tập luyện và hai năm sau khi đạt danh hiệu hoa hậu, Thanh Hằng mới có được thành công ban đầu trong làng người mẫu, được công chúng và đồng nghiệp xem như một người mẫu chuyên nghiệp. Thanh Hằng từng thổ lộ: “Nếu cứ nghĩ đoạt danh hiệu hoa hậu sẽ được đi diễn thời trang thì không được. Người mẫu và hoa hậu hoàn toàn khác nhau. Làm người mẫu tất nhiên có tiền, nhưng quan trọng là mình phải thấy vui, yêu thích với công việc ấy. Đó là chưa kể những nỗi lo luôn thường trực về trách nhiệm bảo vệ hình ảnh, lối sống của hoa hậu để khỏi bị tai tiếng”.
Một cú huých giúp tên tuổi của Thanh Hằng lên như diều gặp gió. Đó chính là Điện ảnh, bộ phim Những cô gái chân dài tập trung khai thác hai tuyến nhân vật chính là Anh Thư và Xuân Lan, hai siêu mẫu nổi đình nổi đám lúc bấy giờ. Cảnh quay của Thanh Hằng chỉ vẻn vẹn chưa tới hai phút. Ấy thế nhưng “đôi chân dài miên man” cùng với góc máy đẹp, đường quay ấn tượng đã giúp Thanh Hằng tỏa sáng trong nháy mắt.
Ngay sau đó, các show diễn thời trang lớn không thể thiếu cái tên Thanh Hằng, cô gái sở hữu đôi chân dài 1m12. Những vị trí đẹp, những trang phục lộng lẫy trong đêm diễn đều có bóng dáng Thanh Hằng. Cô nghiễm nhiên trở thành vedette. Tiếp theo đó, danh hiệu Người mẫu xuất sắc 2006 của giải thưởngNgười mẫu Việt Nam đã góp phần khẳng định vị trí, tên tuổi của đôi chân dài 1,12m trên sàn diễn thời trang.
Sau vai diễn cực ngắn trong phim Những cô gái chân dài Thanh Hằng tiếp tục chinh chiến trên con đường nghệ thuật mới. Cô liên tục tham gia các phim Tuyết nhiệt đới, Gia tài bác sĩ, Nụ hôn thần chết, Những nụ hôn rực rỡ… Số lượng phim cô đóng chưa nhiều nhưng cũng phần nào minh chứng được khả năng diễn xuất của Thanh Hằng, ít nhiều cũng xóa được cái nhìn khắt khe của công chúng về việc người mẫu làm đẹp cho màn ảnh hay còn được dùng với cụm từ mỹ miều “bình hoa di động”.