30.7.14

Tại sao 1946 Hồ đã rước Pháp quay lại Việt Nam, rồi lại đẩy cả dân tộc vào cuộc chiến chống Pháp



Tại sao 1946 Hồ đã rước Pháp quay lại Việt Nam, rồi lại đẩy cả dân tộc vào cuộc chiến chống Pháp

Vẫn là câu hỏi tại sao?

Đất nước bị Pháp đô hộ suốt gần một thế kỷ, cả dân tộc ngụp lặn lầm than, giấc mơ lớn nhất và ý chí nung nấu nhất kết nối toàn dân tộc Việt khi đó là giành được độc lập cho dân tộc, là thoát khỏi kiếp nô lệ thực dân Pháp. Giấc mơ đó bỗng nhiên trở thành hiện thực như một món quà vô giá trời cho dân ta nhờ chiến thắng của các nước Đồng Minh trước trục phát xít Đức-Ý-Nhật, kết thúc Thế chiến II.

Thế mà, Việt Nam đã để tuột mất cơ hội trăm năm có một đó. Tại sao? Vẫn là câu hỏi Tại sao? Bài viết này là một cái nhìn của cá nhân tôi về điều đó, cái nhìn từ xa cách 70 năm nên đã biết chân tướng của đạo diễn và các diễn viên chính của các sự kiện chính trị nước ta và thế giới giai đoạn đó.

Hồ và CSVN đã biến cơ hội của Việt Nam thành những cơn nguy khốn triền miên

Ngày 9/3/1945 quân Nhật đang thắng lớn ở toàn châu Á đã dễ dàng đảo chính quân Pháp giành quyền đô hộ Việt Nam. Nhưng đến 15/8/1945 Nhật Hoàng đã phải tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh vô điều kiện (sau khi Nhật bị hai quả bom nguyên tử ngày 8/8/1945 của Mỹ vì rửa hận trận Trân Châu cảng), và ở Việt Nam quân Nhật phải bàn giao chính quyền cho Chính phủ dân tộc dân chủ của người Việt đứng đầu là ông Trần Trọng Kim rồi chịu bị giải giáp bởi quân đội Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc và quân Anh ở miền Nam (do Đồng Minh/LHQ phân công).

Trên thực tế, từ ngày 15/8/1945, dân tộc Việt Nam đã có được cơ hội độc lập tư do mà mình mơ ước suốt trăm năm đó mà không phải trải qua chiến tranh đẫm máu...

Thế nhưng, ngày 19/8/1945 chỉ một thế lực nhỏ với khoảng 5 nghìn thành viên của đảng cộng sản nhưng vô cùng manh động (với sự đạo diễn và hỗ trợ của Hoa Nam sau lưng) đã bất ngờ cướp chính quyền trên tay chính phủ Trần Trọng Kim bằng bạo lực và tàn sát ngầm đẫm máu mọi cá nhân, lực lượng dân tộc dân chủ khác. Hồ tuyên bố thành lập chính phủ Liên hiệp Việt Minh của cộng sản ngày 2/9/1945 để rồi đến ngày 6/3/1946 chính phủ đó quay ngoắt lại ký Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp (do chính Hồ ký với Saintery), rồi đến hai động tác nghi binh hỏa mù của Hồ là Hội nghị Đà lạt Pháp-Việt (19/4 đến 11/5/1946) do Giáp thực hiện và Hội nghị Fontainebleau (6/7 đến 10/9/1946) do Đồng thực hiện. Và cuối cùng, Hồ đóng chiếc đinh chót cho cỗ quan tài bán nước của Việt Minh cộng sản bằng việc đến tận nhà riêng Bộ trưởng Thuộc địa Pháp để ký Tạm ước Véc-xây Pháp-Việt ngày 14/9/1946...

Tại sao Hồ và cộng sản làm được việc cướp chính quyền dễ dàng vậy?

Tất nhiên chúng ta bỏ qua luận điệu của CSVN suốt 70 năm nay rằng Hồ và họ là “đảng thiên tài” v.v….và v.v…, mà nhìn lại giai đoạn này từ khoảng cách 70 năm để biết chuyện gì đã thực sự xảy ra.

Phải thấy rằng đối với tuyệt đại đa số dân Việt khi đó, kể cả các đảng phái chính trị vốn đều đấu tranh chống Pháp vì độc lập dân tộc, mọi chuyện diễn ra quá nhanh, quá nhiều hướng, nhiều sự kiện, và không ai có đủ kinh nghiệm trước cho tình huống hỗn loạn chính quyền sau chiến tranh đó hay tương tự, để kịp có những phương án thích hợp, trừ đảng cộng sản Đông Dương đã tự quì nạp là “của Hồ”, do Mao/Chu lãnh đạo.

Cá nhân Hồ, như chúng ta biết, là sĩ quan tình báo Hồ Quang đã có kinh nghiệm gây bạo loạn cách mạng thành công ở tỉnh Sơn Cương, Quảng Châu năm 1937 của CSTQ chống Quốc dân đảng giành chính quyền tại đó (mà vì thế Hồ được Mao/Chu chọn đào tạo gấp rồi cử sang thâu tóm đảng và phong trào cách mạng CSVN, tất nhiên cho CSTQ, từ năm 1937). Đằng sau Hồ là tình báo Hoa Nam với mạng lưới và lực lượng khắp Việt Nam, và cả ban lãnh đạo đảng CSTQ (Mao, Chu) với nhiều năm nội chiến và bạo loạn giữa CSTQ với Quốc dân đảng và Nhật suốt từ 1921 đến 1945.

Thế cho nên, dù chỉ có hơn 5000 người trên cả nước, CSVN đã chủ động vừa tuyên truyền dân nghèo đi đập phá cướp bóc, vừa tổ chức khủng bố giết hại mọi đối thủ tiềm năng vốn đông hơn họ rất nhiều nhưng kém tổ chức và thiếu kinh nghiệm, kém cả sự tàn bạo khát máu, thậm chí họ còn ngây thơ tin khẩu hiệu giải phóng dân tộc của CS nên sẵn sàng hợp tác với CSVN vì cơ đồ Việt chung… Đó chính là chiến lược cướp trong cái nghịch, trong bạo loạn của CSVN được CSTQ cầm tay chỉ bước… Vì thế, 5000 người máu lạnh cộng sản đã khống chế được hàng chục triệu người Việt vô thức ngất ngây ngu dại hay tham ác…

Ngay cả các tổ chức mạnh hơn, đông người hơn, có quân đội chỉnh tề hơn và có tuổi đời già dặn hơn đảng CS Việt Nam lúc đó như VN Quốc Dân đảng, VN Cách mạng đảng… và có sự hỗ trợ công khai của quân Tưởng, cũng đều hành động chậm chạp, xử lý lúng túng và bị động hơn CSVN, dù họ có lợi thế hơn nhiều vì chính Quốc dân đảng của Tưởng được vào giải giáp quân Nhật ở Hà Nội. Họ đã vì thế mà ra ánh sáng quá sớm nên bị CSVN tận diệt, trong khi CSVN có ba lực lượng thì hai trong bóng tối: nửa trong tối cầm vũ khí của đảng cộng sản (đã tuyên bố “tự giải tán” từ 11/11/1945) và nửa Mặt trận Việt Minh trên diễn đàn chính trị thì hô hào hứa hẹn và bắt đầu sự nghiệp lừa bịp dân tộc của họ, phần thứ ba là Hoa Nam và CSTQ trong tối sau lưng Hồ (chống lưng) và dí dao sau lưng Việt Quốc, Việt Cách cùng quân Tưởng chân đất rách tưới nhưng nghênh ngang vì là quân Đồng Minh (và chỉ huy thì tham nhũng và bị cộng sản thao túng, mua chuộc)…

Trong bối cảnh đó, lực lượng có sức mạnh nhất là người dân và giới trí thức, tư sản dân tộc Việt, kể cả phong kiến Việt (từ vua Bảo Đại đến nhiều đại thần, quan lại…) đã bị cộng sản lừa hoàn toàn với chiêu bài dân tộc… Vậy là Hồ và cộng sản cướp chính quyền rồi lập chính quyền ở Việt Nam năm 1945/1946 dễ dàng như vậy!

Tại sao cướp được chính quyền rồi Hồ và Việt Minh lại vội vã dâng ngay đất nước cho Pháp quay trở lai?

Đây là câu hỏi mà suốt gần 70 năm nay đa số người Việt còn ngỡ ngàng chưa trả lời được. Ai tự trả lời được và có chính kiến phản đối Hồ khi đó đều bị Việt Minh (và Hoa Nam) bí mật thủ tiêu hết!

Ngay từ ngày 23/9/1945 Pháp đã quay trở lại Sài Gòn do có quân Anh hỗ trợ, lộ rõ ý đồ chiếm lại Việt Nam mà pháp đã bị Nhật đảo chính cướp quyền hoàn toàn từ 6 tháng trước. Ý đồ đó Pháp không thèm giấu diếm khi ngày 28/2/1946 họ ký Hiệp ước Hoa-Pháp (với Trung Hoa Dân quốc của Quốc Dân Đảng Tưởng, cùng là quân Đồng Minh với Pháp…) hứa trả các tô giới Pháp cho Tàu và nhượng một số quyền lợi của cho Tàu tại Việt Nam (như cho Tàu Đặc khu Hải phòng…), nhưng vẫn không được thay Tàu Tưởng giải giáp Nhật.

Thế mà, chúng ta hãy xem lại nội dung chính Hiệp ước sơ bộ Pháp Việt mà Hồ ký với Jean Saintery ngày 6/3/1946: Việt minh đồng ý để 15,000 quân Pháp vào miền Bắc thay 200,000 quân Tưởng Quốc dân đảng để giải giáp quân Nhật - vốn chỉ là việc hình thức vì quân Nhật đã nghe lời Nhật Hoàng rút quân nghiêm chỉnh từ 15/8/1945. Hai hiệp định trên cứ như cùng do Pháp ký với Tàu! Làm sao mà Hồ có thể thay đổi quyết định của Đồng Minh/LHQ phân công Trung hoa Dân quốc giải giới vũ khí phát xít Nhật tại Hà Nội bằng một “hiệp ước sơ bộ” với Pháp được chứ!

Thứ nhất, ngay cả tướng Trương Phát Khuê là tổng chỉ huy quân Quốc dân đảng ở VN cũng không có quyền đồng ý cho Pháp vào thay mình giải giáp Nhật vì đây là nhiệm vụ của LHQ và Đông Minh giao cho Tưởng và Tưởng giao cho Khuê. Chỉ có chính Tưởng đồng ý (và Pháp xin tự nguyện thay) thì mới được. Nhưng một lãnh tụ lớn như Tưởng không thể không nhìn ra vai trò đặc biệt của VN trong kế hoạch lâu dài của mình, mà dễ dàng bỏ VN kéo 200 ngàn quân về khơi khơi thế được. Nhất định Tưởng phải bị ép, và người có thể ép Tưởng lức đó chỉ có thể là Stalin và Truman. Năm 1945/1946 Tưởng mới đang có ý định bỏ LX theo Mỹ (vì Truman mới lên) nên có lẽ Tưởng đã nhân nhượng Stalin đang rất mạnh vì một quyền lợi nào đó thiết thực hơn…

Thứ hai, hai lực lượng chính đối lập cộng sản của Hồ ở VN khi đó là Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đảng đều thân Trung Hoa Dân quốc hơn, được Tưởng ủng hộ sau lưng đê cầm quyền tại VN, nên Trương Phát Khuê không dễ gì ủng hộ cộng sản VN của Hồ chỉ vì Hồ cho… vàng (như chính sử của CSVN hôm nay nói vậy).

Thứ ba, bản thân Lực lượng Quốc dân đảng vào VN đó của quân Tưởng cũng luôn đối lập gay gắt với CSTQ của Mao/Chu và có thể cũng biết rõ Hồ do Mao/Chu dàn dựng lên và điều khiển, thì làm sao họ nghe Hồ được.

Như vậy, Hiệp định sơ bộ “của Hồ” phải có sự thỏa hiệp giữa CSTQ/Mao-Chu với Quốc Dân đảng Tưởng, và với Pháp, có lẽ thông qua ngả Liên xô. Vấn đề là, thỏa hiệp đó thực chất vì quyền lợi của ai và với mục đích cụ thể gì? Hỏi đã là trả lời. Mao và Tưởng và Pháp (với sức ép của Stalin) có thể thỏa hiệp vì quyền lợi của ai? Vì nhân dân Việt Nam như Hồ và CSVN vẫn đang bịp bợm dân Việt ư?

Tất nhiên, trong vụ này không thể không có sự tham gia của Mỹ, vì Mỹ cũng muốn thay Pháp vào VN, và Mỹ cũng đã tiếp cận Hồ ở Việt Bắc đề biết Hồ là ai, của ai, vì ai.

Vậy hãy xem Mao muốn gì từ Hồ và VN “của mình” lúc đó? Năm 1945 chấm dứt giai đoạn hợp tác Quốc-Cộng chống Nhật của Mao và Tưởng từ 1938, mà trong giai đoạn đó Mao đã chỉ đạo quân đội CS (Hồng quân) của mình chỉ dành 10% sức lực chống Nhật, 20% sức để chống phá Tưởng ngầm và 70% để dành để phát triển lực lượng vào dân và hư trương thanh thế với dân để chiếm đất diệt Tưởng sau này…(vì quân Mao rất yếu so với Tưởng, chỉ chạy dài vào rừng núi, và chạy lên phương Bắc để cầu viện cộng sản Nga…). Có nghĩa là, Mao luôn coi Tưởng (kẻ thù giai cấp) mới là kẻ thù chính, kẻ thù số 1 không đội trời chúng, chứ không phải Nhật (kẻ thù dân tộc) dù cho kẻ thù dân tộc Nhật đang xâm chiếm, tàn sát và đô hộ nước Trung quốc của Mao (như/bằng chính phủ Nam Kinh và cuộc tàn sát Nam Kinh của Nhật với người Hoa…)

Nếu năm 1931 Nhật không chiếm Mãn Châu rồi năm 1937 Nhật không mở rộng đánh chiếm toàn Trung quốc làm quân Tưởng phải thực sự dồn sức giữ nước Trung hoa trước, thì Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch chắc chắn đã diệt hết Cộng sản Trung quốc của bè lũ Mao/Chu nhanh gọn từ lâu rồi, (và lịch sử VN cũng như Lịch sử Nhân loại đã đi theo con đường khác tươi sáng hơn hiện nay…).

Từ 1945, Trung quốc lại bắt đầu đi vào nội chiến Quốc-Cộng toàn diện và trận quyết liệt cuối cùng. Phía Bắc, dù Nhật đã đầu hàng, Stalin vẫn đánh diệt toàn bộ các binh đoàn Nhật trên mặt trận Mãn Châu, rồi dồn giao toàn bộ vũ khí và cố vấn quân sự sau chiến tranh Thế chiến 2 của mình cho Mao, nên CSTQ đã giành thế thượng phong trước quân Quốc dân đảng sau hàng chục năm chạy dài hay giả vờ “liên kết chống Nhật”. Phía Tây, Mao thừa cơ dùng núi vũ khí Stalin cho đem chiếm Tây Tạng và Tân Cương, phía Đông Mao đã có Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn cung cúc cùng “lý tưởng” và nước Nhật đã đầu hàng. Từ lâu, Mao/Chu chỉ lo nhất phía Nam nên đã cử người của mình (các điệp viên và quân khủng bố ngầm) đến các nước Miến, Thái, Malay, Singapore, Indonesia, Phi và tất nhiên nhất là Việt Nam sát nách (đã có Hồ)… để“lãnh đạo -lái- cách mạng vô sản” các nước theo mình.

Không muốn Quốc dân đảng phát triển đến và khống chế Đông Nam Á (điều rất tiếc Tưởng Giới Thạch lúc đó năm 1945 đang mạnh và là thành viên sáng lập Liên Hiệp Quốc, lại chưa nghĩ đến “nghiêm túc” như Mao, dù có kẻ quân của Tưởng đã vẽ ra đường lưỡi bò 11 khúc trên Biển Đông…) Mao phải quyết bịt cửa ngõ phía Nam của Tưởng bằng mọi giá… của người Việt và nước Việt (!), là cho nó bị Pháp đô hộ lại còn hơn để nó độc lập nhưng theo Quốc dân đảng, và tất nhiên Mao sẵn sàng chia cắt nó (nước Việt) làm phên dậu che chắn cho mình. Vì thế bằng mọi cách Mao đề nghị Liên Xô giúp Pháp quay lại Việt Nam thay Tưởng.

Liên Xô của Stalin sau chiến tranh giúp Tưởng chống phát xít Nhật trên mặt trận phía Đông, đã bị Tưởng xong rồi phản bội lại và theo Mỹ, nên đồng ý giúp Mao chống Tưởng, vì Stalin dù không ưa vẫn muốn Mao cộng thắng và vào phe XHCN mà Stalin đang bắt đầu thành lập hàng loạt nước ở Đông Âu. Tất nhiên, Stalin cũng lại sẵn sàng trả cho điều đó bằng cái giá… độc lập tự do của dân tộc Việt – mong thoát khỏi đô hộ của Pháp. Hơn nữa, nước Việt lúc đó có chính phủ mới của Hồ mà Stalin chưa biết là loại cộng sản gì mà tự giải tán đảng ngay sau khi đã lên cầm quyền, nên Stalin đã không công nhận nó. Thế là Pháp được LHQ/Liên Xô/Mỹ bật đèn xanh cho quay lại VN thay Tưởng.

Còn một lý do cực kỳ quan trọng/sinh tồn nữa đối với đảng CSVN và Hồ mà Hồ phải làm bằng mọi giá việc đuổi quân Tưởng đi rước quân Pháp vào, đó là để Hồ và CSVN diệt hết các lực lượng dân tộc dân chủ ở VN là đối thủ trực tiếp hiện tại của Hồ và CS như VN Quốc dân đảng, VN Cách mạng đảng… họ đa số là thân hữu và được Quốc dân đảng Tưởng hỗ trợ vì cùng là các lực lượng dân tộc dân chủ tiến bộ giống nhau quan điểm chính trị không hoạc chống cộng sản. Đuổi được quân Tưởng đi thì các lực lượng đó sx yếu đi hay thậm chí phải đi theo vì không trụ được là có lợi cho cộng sản VN và Hồ, dù với cái giá... rước Pháp quay lại đô hộ Việt Nam. Và mọi việc đã diễn ra đúng như thế…

Thế là Hồ không chỉ hoàn tất nhiệm vụ bịt cửa Nam của Tưởng mà Mao/Chu giao, đưa nước việt được ngửi mùi tự do trên danh nghĩa và trong hỗn loạn và nội chiến có tròm trèm một năm (từ 15/8/1945 đến 14/9/1946) phải đi vào cuộc chiến tranh Đông Dương 1 đẫm máu trường kỳ không cần thiết… (hay là rất cần thiết cho nước Tàu cộng sản hình thành), mà Hồ còn nhờ thế làm yếu đi các lực lượng dân tộc dân chủ khác mà Quốc dân đảng Tưởng hỗ trợ, rồi từ từ hãm hại hết các lực lượng dân tộc dân chủ quí giá đó của dân tộc Việt Nam trong khoảng 3-5 năm sau đó. Đến 1949/51 Bắc Việt Nam thành vùng trắng dân chủ, chỉ còn máu đỏ…

Vài lời kết đau xót

Số phận Việt Nam như con cá trên đĩa mà Hồ và cộng sản VN dâng lên cho quan thầy là CSTQ Mao/Chu xơi (và bản thân Hồ cũng CSVN cũng cắn xé tàn bạo vào đó) ngay từ những ngày đầu 1945/1946, vì quyền lợi và sự ra đời của nước TQ cộng sản sau đó (vì phải thắng quân Tưởng đã) và quyền lợi độc tôn màu đỏ của chính họ là như thế, là vì thế…

Ký Tạm ước Véc-xây tại ngay dinh thự Bộ trưởng Thuộc địa Pháp một cách nhục nhã, Hồ biết đó là vì quyền lợi nước mẹ TQ của mình mà Hồ đã bán độc lập tự do của nước Việt cho Pháp mà Hồ đang đóng vai “cha già dân tộc”, nên đã nói: “Hôm nay tôi vừa ký bản án tử hình cho mình”, vì biết dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ tha thứ cho y! Một chữ ký đó của Hồ là hàng chục triệu sinh mạng Việt phải trả giá và dân tộc Việt lại lùi vào lầm than vài chục năm, là lịch sử Việt Nam rẽ vào ngõ cụt chông gai ngược hướng tiến triển của Lịch sử Nhân loại…

Cái đau xót là dân Việt lúc đó đã có hàng triệu kẻ gian tham điên cuồng tin vào Hồ mà cùng Hồ bán nước cho Pháp (vì nước Tàu CS) và hãm hại người Việt yêu nước hơn mình như thế mà họ không biết, để rồi lại cùng Hồ đưa dân tộc vào một cuộc chiến tranh Đông dương tàn khốc suốt hàng chục năm sau đó.

Cái không may lớn hơn nữa của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đó là quân cộng sản của Hồ/Mao lại thắng, nhờ có vũ khí của Tầu cộng từ 1950 dồn cho sau khi Tàu cộng nhờ vũ khí Liên xô đã thắng Tưởng năm 1949…

Chúng ta thấy, từ thế kỷ XX, bất kể quốc gia nào, để thắng một cuộc chiến tranh nội chiến đều phải dựa vào thế lực nước lớn bên ngoài (cung cấp vũ khí và mọi nhu yếu phẩm), như Trung cộng đã thắng Tưởng năm 1949 nhờ LX và VN thắng Pháp năm 1954 nhờ Trung cộng, và như cả VN thắng Nam Việt Nam 1975 sau này nhờ LX và Trung cộng, mà CS Việt Nam chỉ “cung cấp”/ép buộc hàng triệu người dại dột nhưng khùng điên hy sinh vô ích, vì ngoại bang Trung cộng mà thôi.

Nhưng chắc chưa có ngoại bang lớn nào làm được việc như Trung cộng của Mao/Chu làm vào năm 1946 đó, là “điều” trước một sĩ quan tình báo của mình vào làm “cha già dân tộc” của nước khác để “cha gia dân tộc” đó điều “dân tộc mình” hy sinh tất cả cho đảng của Mao/Chu ở nước mẹ của “cha già”, như Hồ đã làm suốt gần 30 chục năm, từ 1940 đến 1969. Đau hơn nữa, đến nay đã thêm hơn bốn chục năm nữa sau cái chết của “cha già”, mà cái dân tộc tự nhiên được thâm tặng “cha già” đó vẫn tự nguyện cung cúc hy sinh tiếp nữa cho nước mẹ của “cha già”, đã mấy đời sau “cha già” rồi, mà chưa chịu tỉnh…

Thật nhục nhã cho dân tộc cắn cu (à quên: cắn câu!) “cha già” đó là dân tộc Việt tôi, biết bao nhiêu!

Chuyển biến mới cũa đảng viên đảng CSVN






image.jpeg

 
61 đảng viên đòi đảng CSVN phải dân chủ hóa
Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng CSVN
Ngày 28 tháng 07 năm 2014 
THƯ NGỎ 
Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam 
Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay,Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.
Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua.
Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị. 
Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây:
1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.
Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị.
Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.
2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…
Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.
Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi.
Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước. 
Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!
- - -

DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ GỬI BCH TW VÀ TOÀN THỂ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 
1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội.
2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội.
6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội.
9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội.
10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội.
11. Hà Tuân Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội.
12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội.
13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội.
14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng.
15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam.
16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội.
17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội.
18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An.
20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh.
21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội.
22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh.
25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội
26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội.
28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký‎ Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư k‎ý của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh.
33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội.
35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội.
36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội.
39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội.
41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh.
43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh.
44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, TP. Huế.
45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội.
49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh.
50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh.
51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế.
52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội.
53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh.
54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh.
55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1991, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1996, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội.
   
image.jpeg

 image.jpeg

28.7.14

Phải bỏ đãng



TỪ CÁNH ĐỒNG MÂY VỚI TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH


PHẢI BỎ ĐẢNG!
 
Phải bỏ đảng! Nghĩ kỹ rồi, không còn đường nào khác!
Bảy mươi năm, kềm kẹp với đói nghèo
Sinh Bắc tử Nam, chết chùm dúm giây leo
Mười triệu dân trước sau nằm tức tưởi!
 
 
Cướp miền Nam cho Nga-Tàu khen ngợi
Mở rộng thêm lãnh thổ Cộng năm châu
Cướp sạch của tiền cả nghèo lẫn giầu
Ba triệu người tị đào ra ngoại quốc!
 
 
Dân đói khổ, dân nghèo đang rên xiết!
Nhũng lạm, tham ô, cưỡng chiếm đất đai
Vứt công bình và pháp luật ngoài tai
Xã hội nhố nhăng, dân tình sa đọa!
 
 
Bọn công an tới đâu là tai họa
Đánh giết người tuổi trẻ chống Tàu phù
Dân ngày nay được dạy dỗ rất ngu
Ai hó hé thì nhà tù sẵn đó!
 
 
Mạng con người trở nên thua con chó
Tàu ở đầy kín nước chẳng dám kêu
Một dàn khoan, nay mai sẽ đến nhiều
Chuyện mất nước không ngờ chi nữa cả!
 
 
Nhận súng đạn khi xưa là có giá
Nghìn tỉ đô, nay phải trả vốn, lời
Tiền không ưng, nay những "chú con trời"
Phải trả bằng biển, đảo, rừng, lãnh thổ!
 
 
Một bọn xằng, chính giặc Hồ đã hố
Công hàm nay thành Văn bản hiến dâng
Đảng vinh quang, sáng suốt đã âm thầm
Dâng biển đảo, dâng nước nhà cho Khựa!
 
 
Xé thẻ đảng, nhưng cuộc đời vẫn bựa!
Vẫn ngàn năm ô nhục, nước còn đâu?
Thứ súc vật như bày chó, ngựa, trâu
Chúng vẫn có danh dự loài khuyển mã!
 
 
Dân Việt nay mất hết rồi, mất cả!
Mất tương lai, mất tất cả, mất đau
Kể từ nay chỉ gục mặt, ôm nhau
Đội gông xiềng của Khựa Tàu, mà sống!
 
 
Phải bỏ đảng, những tiếng kêu, tiếng rống 
Bảy mươi năm đảng kềm kẹp dân đen
Đảng rèn cho dân sống rất ư hèn
Đĩ, công an, xã hội đầy rác rến!
 
 
Phải bỏ đảng! Dù tội tù phải nếm!
27-7-2014
Bút Xuân Trần Hoàng Sa 


27.7.14

Hồ chí Minh chính là .......



Thiếu tá Hồ Chí Minh

Thiếu tá Hồ Chí Minh trong “Trung quốc công bố thiếu tá Hồ Quang…”

 Bảo Giang (Danlambao)- Trong mấy chục năm qua, không riêng gì ở Việt Nam, mà còn ở các nước từ Âu sang Á, người ta đã tốn không biết bao nhiêu giấy bút, thời giờ để nói, để viết về Hồ Chí Minh mà vẫn chưa tìm ra nguồn gốc đích thực của nhân vật này. Chỉ biết, truớc 1945, HCM là một cái tên quá xa lạ với cộng đồng Việt Nam, thế giới. Nhưng ngay sau ngày cộng sản cướp chính quyền tại Hà Nội. Rõ hơn là sau ngày chia đôi đất nước 20-7-1954, Cái tên ấy đã nổi lên và trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng với tất cả mọi người. Nó ám ảnh con người khi thức cũng như trong lúc ngủ. Lúc ở ngoài cũng như khi vào tù. Nó như chuyện bị ma ám quỷ nhập, chả có lúc nào rời bỏ con người. Dù tệ hại như vậy, câu chuyện về HCM vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại. Bởi vì:

Người thì viết ca tụng Y như thần như thánh, như tiên ông. Kẻ lại gọi, đánh bóng ông ta là “chủ tịch vô vàn kính yêu”, “người thầy vĩ đại của đảng” hoặc là “bác sống mãi trong đáy quần chúng”! Thôi thì đủ kiểu đủ cách để cho họ thổi bóng bóng cho Y. Nghe nói, chỉ tính riêng việc thổi bong bóng này cũng để lại một chuyện cười ra nước mắt. Một hôm, ngay tại thành Hà Nội vào những năm cực thịnh, khi Hồ chí Minh còn sống. Trên đường phố Hà Nội xuất hiện khá nhiều hình ảnh của ông Tiên, ông Sư, ông Cha và bác Hồ ghép chung lại với nhau bằng một tấm giấy quảng cáo khổ lớn. Nhìn tấm hình treo đầu đường, trên phố, cán bộ nhớn nhỏ phấn khởi, chuyền tai bảo nhau: Không ngờ nhân dân ta quý “bác “đến thế! Mãi đến khi anh phu xe đứng nhìn tờ quảng cáo, chẳng biết phe nào sáng tạo, rồi phì cười. Khi ấy các cơ quan từ trung ương đến phường khóm mới vỡ lẽ ra câu chuyện, vội vã cho người đi thu hồi, tháo tấm quảng cáo “tiên sư cha bác Hô” xuống, lẳng lặng liệng vào cống, làm cho người Hà Nội một phen cười đến đau bụng.

Cùng với câu chuyện ấy là không biết bao nhiêu triệu triệu người lên án, nguyền rủa Y như một đồ tể của nhân loại. Là kẻ vô đạo, kẻ bán nước hại dân. Xem ra trong cuộc chiến tuyên truyền này, phía nào cũng lo bảo vệ cái lý của mình. Tuy nhiên, có một cái lý lẽ mà không bên nào có thể chối bỏ được là: Hồ Chí Minh đứng hàng thứ bảy trong danh sách những kẻ bạo tàn, vô đạo nhất trên thế giới. Y chỉ đứng sau Mao trạch Đông, Lenin, Staline, Hitler. Ponpot! Trong quyển “Death by Government” (Chết do chánh phủ), tác giả Rudolph J. Rummel, giáo sư khoa chính trị học đại học Yale, thì số nạn nhân của những người này được ghi nhận như sau:

(1) Mao’s Regime 76,702,000 (1958-1962 là 35,236, 000; PRC từ 1928- 1987 là 76,702,000 người).
(2) Lenine, Staline (Liên Xô) 61,911.000 người.
(3) The Nazi Genocide State (Hitler 20, 946, 000 người).
(4) Quân phiệt Nhật 5,964.000 người.
(5) Khmer đỏ 2,035.000 người. (ponpot)
(6) Thổ Nhĩ Kỳ 1,883.000 người.
(7) Hồ Chí Minh, Cộng sản Việt Nam 1.670.000 người.
(8) Cộng sản Ba Lan 1.585.000 người.
(9) Cộng sản Nam Tư 1.072.000 người.

Sự việc là thế, nhưng vẫn có người ra điên thành dại ca tụng, đánh bóng ông ta như là “cha già của dân tộc”. thay vì lên án Y là kẻ diệt chủng tộc Việt. Rồi lại có nhiều kẻ u mê, mất trí ra công ra sức đánh bóng sự gian dối vô đạo của Y bằng thứ ngôn ngữ buồn nôn, rồi tuyên truyền đầu độc giới trẻ “học tập theo gương đạo đức của bác Hồ”, mà không hề biết bản thân Y là một kẻ vô đạo, bất nhân, bất hiếu, bất nghĩa. Đã thế, còn bầy đoàn xây đài, đúc tượng cho y. Tìm đủ mọi phương cách để chèn ép, bức hại các tôn giáo để đưa cái đầu lâu của y vào chùa, vào đền miếu ngang hàng với thần phật, mà không hề biết rằng bản thân y, một đảng viên đảng cộng sản thì cho đến chết vẫn là một kẻ tôn thờ chủ nghĩa tam vô. Vô thần phật, không cúng kiếng! Theo đó, việc đốt nhang đèn cho y, cho một đảng viên cộng sản, tưởng là chuyện hay, chuyện tốt, giúp họ thoát chốn đọa đày, trầm luân và sớm được quay về với thần thánh nơi miền cực lạc, hóa ra lại là một sự kiện ngược chiều vơi tâm tư người CS. Họ có tin vào thần linh đâu, hồn họ đã về với Mác Lê Mao, cần gì nhang khói? Trên phần mộ của họ nên để cái búa và cái liềm thay vì bát nhang!

Cứ thế, câu chuyện bên bênh, bên chống vẫn chưa ngừng lại. Tuy nhiên, tinh thần vô đạo, vô tôn giáo, và lối sống, lối đào tạo phi nhân bản của tập thể này sau hơn 70 hiện diện trên đất nước Việt Nam, đã đẩy xả hội Việt Nam đến bên bờ vực thẳm của sự hủy diệt. Ở đó, nền tảng luân lý đạo đức của xã hội, cũng như nền phong hóa và văn hóa nhân bản của Việt Nam bị CS tàn phá, bị chôn vùi theo đường dao mã tấu của cs, nên con người phải nói dối nhau mà sống. Sống bằng cuộc tranh dành, cướp đoạt, chụp dựt và ích kỷ. Ở đó, xem ra con người không còn đối xử với nhau theo tính nhân văn của con người. Trái lại, chỉ còn lại sự dối trá, dối trá và dối trá..

Người ta tự hỏi, liệu những thành phần lãnh đạo cộng sản hiện nay có biết đến chuyện xã hội nhân bản Việt Nam bị CS làm cho băng hoại như hôm nay không? Tôi cho rằng, họ biết và biết rất rõ, Nhưng bản chất của họ đã được đào tạo trong cuộc sống là gian dối, là cướp đoạt, là tranh dành là ích kỷ. Họ chỉ biết cho cá nhân của họ bằng việc bảo vệ cái đảng mà không bao giờ nghĩ đến tương lai của cả một dân tộc. Đó chính là căn nguyên của mối họa mà CS di họa cho mọi người, không trừ ai. Và nhờ căn nguyên gây họa này mà HCM trở thành một trong số rất ít người có mặt trên thế giới nhận được những lời ca tụng bóng bẩy, hào nhoáng nhất. Nhưng cũng đồng thời là kẻ phải nhận lấy những lời nguyền rủa cay độc, tồi tệ nhất! Một người như thế, chắc là có nhiều điểm đặc biệt, nôi bật? Đúng thế, Y nổi bật ở trong nhiều cách, nhiều kiểu, nhiều vị thế khác nhau. Tuy thế, chưa có mấy người biết đến tên tuổi của thiếu tá Hồ chí Minh trong quân đội giải phóng nhân dân Trung quốc ra sao!

Thiếu tá Hồ Chí Minh tên thật là Huguang (Hồ Quang) là đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, tùng sự tại Bát lộ quân của tướng Chu Đức vào cuối năm 1939. Theo hồ sơ quân bạ được Trung cộng lưu trữ, thiếu tá Hồ chí Minh có phần sơ yếu lý lịch như sau “Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang (tức Hồ chí Minh) tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc /thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi- Phụ trách điện đài - Quảng Đông - Thiếu tá - tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2) Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员---38岁----广东----少校 ----毕业于岭南大学------中学教师。会外语和国语 . Với bản lý lịch này, thiếu tá Hồ chí Minh (Huguang) là người mang quốc tịch nào?

1. Nhìn từ phía người Trung hoa.

Một bản sơ yếu lý lịch đầy dũ thường ghi rõ ngày tháng năm sinh và sinh quán. Tuy nhiên, bản sơ yếu lý lịch của Thiếu tá Hồ chí Minh không có ngày tháng năm sinh và sinh quán. Nó đơn giản hơn. Việc đơn giản này cũng có thể hiểu vì đây có thể là một lờp huấn luyên chuyên môn, nội bộ, ngắn hạn, do các cơ quan gởi người đến, nên nó không dặt nặng về những hình thức thường thấy. Tuy nhiên, bản lý lịch vẫn có đầy đủ những chứng liệu cần thiết cho biết. Học viên Hồ Chí Minh năm 1939, 38 tuổi, tốt nghiệp tại Đại học Lĩnh Nam, và đã từng là giáo viên trung học. Hiện mang quân hàm thiếu tá trong quân đội giải phóng nhân dân Trung quôc. Đọc bản lý lịch này thì triệu người Trung Hoa như một đều quả quyết thiếu tá Huguang, sau đổi là Hồ chí Minh là người bản xứ. Ông ta không có một cơ sờ nào để chứng minh là người ngoại quốc, làm cố vấn cho quân đội của Trung cộng.!

Về phía nhà nước Trung cộng. Khi họ công khai hóa hồ sơ lý lịch này cũng có ít nhất hai lý do. Thứ nhất, nhác nhở cho Hồ Chí Minh biết y là con dân của Trung quốc, được đào tạo và đưa sang Việt Nam để hoạt động, dầu như có là chủ tịch của nước Việt Nam thì Y cũng phải biết nguồn gốc của mình ở đâu để thi hành công tác mở đường cho Trung cộng tràn về phương nam. Thứ hai, có ý ngầm báo cho người Việt Nam biết rằng, Hồ chí Minh là người Trung quốc, Y được đào tạo chính quy từ đại Học Lình Nam đến các khóa chuyên môn tại Nam Nhạc. Đồng thời cũng được đào tạo từ quân đội nhân dân Trung cộng để lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản ở Đông Dương và Việt Nam theo chỉ thị của Trung cộng. Đây cũng là đòn đe loi sự phản bội của Hồ Chí Minh với mẫu quốc? 

2. Từ phía Việt Nam.

Dầu rất muốn, thật cũng khó tìm được đầy đủ những chứng liệu để chứng minh thiếu ta Hồ Chí Minh, tên thật là Huguang năm 1939, 38 tuổi, một người đã tốt nghiệp tại Đại Học Lình Nam, giáo viên một trường Trung Học tại địa phương, hiện mang quân hàm thiếu tá, phụ trách ngành diện đài trong quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc là người Việt Nam, nói rõ hơn là Nguyễn ái Quốc.. Khó chứng minh là bởi vì:

a. Lý lịch của Nguyễn Sinh Cung

Nguyễn sinh Cung sinh năm 1891, tại Kim Liên Nam Đàn. Khi đang học lớp sáu tại trường quốc học Huế thì bị đuổi ra khỏi trường. Khi đến Pháp, NTT có làm đơn xin vào học trường thuộc địa nhưng bị từ chối. Từ đó cho đến mãi về sau này 1933, không có bất cứ một tài liệu nào cho thấy y trở lại trường học để hoàn tất bậc Trung Học để có thể được ghi tên vào một trường đại học. Hon thế, cho đến năm 1933, ngoài hai năm có địa chỉ chính thức là nhà tù tại Hồng Kông, HCM rày đây mai đó, không có một địa sở nhất định. Cũng chẳng có bất cứ một tài liệu nào cho thấy là Y đã dừng chân và gia nhập học tại Đại Học Lĩnh Nam dù chỉ là một vài ngày.

Ngoài ra, Nguyễn Sinh Cung có những trở ngại không thể chứng minh như sau: Nguyễn ái Quốc bị bắt năm 1931- 1933. Sau khi được trả tự do, theo tin của sở mật thám Pháp, NAQ đã chết vì bệnh Lao trên đường đến Liên Sô. Cái chết này đã được tổ chức truy điệu ở trường Đông Dương tại Liên Sô và có một số học viên Việt Nam đến tham dự. Rồi từ năm 1933- đến 1939 không ai có thể tìm ra được tông tích có thể chứng minh là của Nguyễn ái quốc. Tuy có những tên và người được cho là, hay gán ghép cho là Nguyễn Ái Quốc thì đều không khả tín. Thí dụ như người mang tên P.Lin đứng ra tổ chức lễ thành hôn cho Lê thị Minh Khai và Lê Hồng Phong tại Mascơva được cho là Nguyễn ái Quốc thì hoàn toàn là sai. Bởi lẽ, Lê Thị Minh Khai và Nguyễn ái Quốc, trước đó vài năm từng chung sống với nhau như vợ chồng ở Hồng Kông. Và ngay trong tờ lý lịch của Nguyễn Thị Minh Khai khi đến Liên Sô cũng dã khai là có chồng tên là P.Lin. Theo đó, làm sao Nguyễn Ái Quốc lại có thể đứng ra làm chủ hôn cho NTM Khai lấy Lê hồng Phong vào năm 1934 tại Liên sô? !

Đó cũng chính là lý do mà bà Sophie Quinn Judge, một học giả Anh quốc cũng là một chuyên gia nghiên cứu về HCM. Bà được qũy Mike và Viên Nghiên cứu Trung Ương Đại Học London tài trợ để làm việc. Bà Sophie đi khắp các nước Đông Nam Á, Việt Nam, sang Trung quốc và Liên Sô, tìm những chứng cứ để đúc kết thành tác phẩm: Ho Chí Minh The Missing Years. Tạm dịch, Những năm tháng mất tung tích của Hồ chí Minh. Ở ngay trong phần giới thiệu nơi trang 6 bà viết:” Hồ chí Minh luôn tìm mọi cách để giấu đi qúa khứ của mình. Nhiều năm qua, những thứ mà ông ta cung cấp toàn là những loại phịa, không khả tin, chúng thường mâu thuẫn với nhau, không mấy liên quan đến đời thực. Đầu tiên là tập tự truyện xuất bản vào năm1949 tại Trung Quốc năm 1950 được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris rồi mấy năm sau xuất bản tại Việt Nam với nhan đề” những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch”. Nhìn chung chỉ là những chuyện tự vẽ ra mà thôi. Nó không có sự kiện nào đúng với thực tế.

b. Phấn cá nhân, Thiếu tá Hồ c=Chí Minh (Huguang) tự cho biết ông ta là ai?

Trong bài “Đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi”, tôi đã viết: Vào tháng giêng năm 1949, tạp chí "Sinh hoạt nội bộ" kỳ thứ 13 của Việt Nam có đăng tải một bài viết nhan đề "Đảng ta" do Hồ Chí Minh (Huguang) viết dưới bút danh Trần Thắng Lợi. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã đưa "Đảng ta" vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 547. Bài viết này cũng được TG Hồ tuấn Hùng ghi lại trong Bình Sinh Khảo, thiên II, nhan đề “ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người”. Hồ Chí Minh viết như sau:

“Năm 1929 (chính xác là ngày 19 tháng giêng năm 1929), trong khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về….

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu (chính xác là ngày 20 tháng giêng năm 1930), cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng. Thế là Đảng ta chân chính thành lập...".(Trần thắng Lợi, tức Hồ chí Minh)) 

Với sự các nhận này, Thiếu tá Hồ Chí Minh (Huguang) và Nguyễn Ái Quốc không thể là một người, nhưng là hai người hoàn toàn khác nhau. Họ cũng có lý lịch khác nhau. Xin nhớ, đây không phải là một bài báo thường. Trái lại, bài viết mang tính cách lịch sử của đảng cộng sản Việt Nam. Bởi vì, nó được chính một trong bày ủy viên dự hội nghị còn sống, lại đang giữ vai trò lớn nhất trong đảng, viết lại sự việc thành lập đảng của mình. Theo đó, một câu, một chữ trong bài viết ấy là lịch sử đảng. Tưởng cũng cần nhắc lại là truy theo nguồn tài liệu chính thức của nhà nước Viêt cộng còn lưu giữ. Bảy ủy viên đứng ra thành lập dảng cộng sản vào ngày 3-2-1930 tại Hồng Kông là: Hồ tập Chương (đại diện CSQT) Hồ tùng Mậu, Trịnh đình Cửu, Lê Tản Anh, Trần Văn Cung, Lê Hồng Sơn và Nguyễn Ái Quốc*

Đặc biệt, nhân cuộc tổng đình công tại Hà Nội đưa đến việc sụp đổ chính quyền của Việt Nam lúc bấy giờ, Việt Minh đã cướp lấy chính quyền vào ngày 2-9-1945, nhưng người ta không hề bết Hồ chí Minh là ai. Sau đó, có tin đồn lan ra bên ngoài HCM là Nguyễn ái Quốc. Tuy nhiên chính ông ta đã nhiều lần phủ nhận điều này. Theo ông Hoàng Văn Chí ghi trong "Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam" , thì ông Hồ nhiều lần đã nói ông không phải là Nguyễn Ái Quốc! Rồi về phía người ngoại quốc cũng thế. “Ngay cả khi tướng Salan, đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, Y vẫn một mực chối cãi. Ông không phải là Nguyễn ái Quốc”.

Lại nữa, theo ông Phạm quế Dương trong bài, “HCM là thiếu tá Hồ Quang” có đoạn: “Ghi chú gia phả và sự nghiệp của Hồ Tập Chương trong hồ sơ HTC 4567 lưu trữ tại Quân Ủy Trung Ương (CPC) và tình báo Hoa Nam như sau: Đương sự được đảng cộng sản Trung cộng huấn luyện hơn một thập niên tại học viện Hoàng Phố, Vân Nam…Kết quả, Trung cộng dốc hết nhân lực, tài khi, tài vật lập ra một thế lực mới tại Việt Nam và tình báo Hoa Nam thổi lên một Hồ chí Minh làm chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng Hòa”. Điều này đúng hay sai thì chưa ai dám quả quyết, nhưng nó cho thêm một bằng chứng nữa là Thiếu tá Huguang sau đổi là Hồ chí Minh là một người Trung Hoa.

c. Sự nghiệp Hán hóa Việt Nam của thiếu tá Hồ Chí Minh.

Tóm tắt. Thiếu tá Huguang năm 1939, 38 tuổi, (sinh năm1901) sau đổi ra là Hồ Chí Minh. Theo tài liệu, ông ta ta đến công tác tại văn phòng bát lộ quân ở Quế Lâm sau đó là Qúy Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của cộng sản Trung Quốc và và Hồng vệ binh của Trung quôc. Thiếu tá Huguang bước vào (trở về) địa giới Việt Nam lần đầu tiên vào ngày 28 tháng 01năm 1941. Đến tháng 8-1942 ông ta trở lại Trung quốc với cái tên mới là Hồ chí Minh và bị bắt vì giấy tờ đã hết hạn. Đến tháng 9-1944 HCM trở lại Việt Nam và cuối năm 1944 trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945(Wikipedia). Nhân cuộc tổng đình công tại Hà Nội đưa đến việc sụp đổ chính quyền của Việt Nam lúc bấy giờ, Việt Minh đã cướp lấy chính quyền vào ngày 2-9-1945. Tuy nhiên, cho đến lúc này, người ta không hề biết tung tích Hồ chí Minh là ai.

Việc này được kể lại trong” Truyện Hồ chí Minh” của William j. Duiker, trang 449, (cũng được trích lại trong bình sinh khảo) như sau: "Vào năm 1946, khi triệu tập Hội nghị Quốc dân đại hội, Bộ trưởng Lao động Nguyễn Văn Thái có đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh là "công dân số một" của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bởi lẽ, lúc ấy thân phận Hồ Chí Minh chưa được xác nhận là Nguyễn Ái Quốc (nhiều người cho rằng). Hồ Chí Minh chính là Hoa kiều tại Việt Nam, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, là phái viên "Quốc tế cộng sản" được cử đến Việt Nam với nhiệm vụ thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.". Như thế họ chấp nhận vai trò lịch sử của HCM là người của quốc tế cộng sản hơn là người Việt nam!

Tuy nhiên, đến năm 1949, tin tức Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung dần dần xuất hiện mạnh mẽ hơn. Nó mạnh mẽ mang tính chiếm đoạt hơn là vì cuốn “những mẫu chuyện về đời hoạt động của bác” do Trần dân Tiên viết đã được xuất bản bên Trung quốc. Và vì những người thân huyết thống, và liên hệ gần gũi trong sinh hoạt với Nguyễn Ái Quốc từ trước 1932 đã không còn:

- Bà Nguyễn Thị Thanh, chị ruột, chưa từng gặp lại Hồ Chí Minh từ khi Y vào Huế, rồi bị đuổi khỏi trường quốc học. Bà chết năm 1946.

- Ông Nguyễn sinh Khiêm, anh ruột, nghe nói được Hồ Chí Minh tiếp riêng khoảng 5 phút trong một căn nhà không đủ ánh sáng ở Hà Nội và chết năm 1951.

- Cụ Phan chu Trinh, người đỡ đầu cho Nguyễn Tất Thành ở Paris qua đời năm 1926.

- Luật sư Phan Văn Trường, mất 1933.

- Nguyễn Tất Thành, mất 1933?

- Nguyễn An Ninh người anh em kết nghĩa với Nguyễn Tất Thành ở Paris, mất 1943.

- Riêng ông Nguyễn thế Truyền, một trong ngũ long tạo ra cái tên chung là Nguyễn ái Quốc để viét báo ở Paris, đã về sống ở Hà nội trước 1945. Ông đã di cư vào miền nam và chưa hề gặp mặt HCM lần nào. đã chết vào 1969.

Đến năm 1951, khi đã vững chân với tên gọi mới, Thiếu tá Hồ Chí Minh bắt đầu thực hiện sách lược Hán hóa Việt Nam theo đường lôi của Trung quốc. Việc trước tiên là lệnh cho Trường Chinh viết lời kêu gọi “Việt Minh vận động cho Việt Nam xin làm chư hầu cho Trung quốc”. Đến năm 1958, chỉ đạo cho Phạm văn Đồng viết công hàm công nhận chủ quyền 12 hải lý thuộc Trung cộng trong vùng đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam. Từ đó mở ra cửa ngõ để những kẻ kế tiếp ký hiệp thương và hiệp định biên giới năm 1999 và năm 2000. Kết quả những phần đất của Bản Giốc, Nam Quan, Lão Sơn, bãi biển Tục Lảm và 3/4 vịnh bắc bộ là máu xương của Việt Nam biến thành đất của Trung cộng. Cũng từ đó, nhà nưóc cộng sản tại Việt Nam đã tạo ra cảnh không có biên giới trên biển đông để tàu bè của Trung cộng, cũng như giàn khoan của họ tự do ra vào đánh bắt cá, thăm dò dầu khi trong thềm lục dịa Việt Nam. Trên đất liền cũng có chung một chủ trương. Biên giới mở cửa, quân, cán và dân Trung cộng tha hồ ra vào tự đo. Họ vào định cư và làm việc nhiều đến nỗi chính nhà nước này cũng không còn kiểm soát đươc con số là bao nhiêu.

Trước cảnh bị mất đất, mất biển của cha ông để lại, người dân không được quyền lên tiếng. Nếu có phản đối thì đều bị bắt bớ, bị đánh đập dã man hay bị tù đày. Phần nhà nước, đã có sẵn kế hoạch trước những phản ứng của người dân. Họ liên kết với đối tác Trung cộng, vẽ ra những kế hoạch mới như: Tổ Hợp Khai Thác dầu khí Việt Trung, để cho Trung cộng tự do đưa các dàn khoan ra vào trên biển đông mà người dân không thể thắc mắc thêm. Trên đất liền thì cho Trung cộng thắng đấu thầu xây dựng toàn bộ các cơ sở hạ tầng, đến khu kỹ nghệ, khai thác rừng đầu nguồn, hầm mỏ… tất cả đều hợp lệ. Từ đó, Trung cộng tự do đưa dân quân cán ra vào và từ từ chiếm trọn lấy giang sơn Việt Nam theo kế hoạch Hán hóa dân nam do thiếu tá Hồ Chí Minh đã thực hiện từ năm 1939.

Thế là ta mất nước. Người Việt Nam thành dân mất nước ngay trên quê hương minh. Nhìn lại, có lẽ không còn một nỗi đau đớn nào dành cho chúng ta hơn nỗi đau này. Chúng ta đã mất quê hương, đã mất tổ quốc qua từng ngày từ hơn 80 năm qua mà không hay biết. Bởi vì Hồ Chí Minh, người được cộng sản ca tụng là lãnh tụ vĩ đại, là người sáng lập đảng CSVN, là chủ tịch đảng, là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thậm chí, còn nghêu ngao là “cha già dân tộc”, thực ra chỉ là một đảng viên đảng cộng sản Trung quốc. Là thiếu tá trong quân đội nhân dân Trung quốc. Y được chọn, được đào tạo để xâm nhập vào hàng ngũ CSVN bằng kế sách “ve sầu lột xác” sau khi Nguyễn Tất Thành cũng gọi là Nguyễn Ái Quốc chết vào năm 1933.

Ở đây, có cái rủi của thời khắc lịch sử là khi y được xếp đặt, chính thức chiếm đoạt cái tên Nguyễn Ái Quốc thì tất cả những người có liên hệ huyết thống hay có sinh hoạt gần gũi với Nguyễn tất thành trước năm 1932 đều đã không còn (ngoại trừ Hồ tùng Mậu đang ở trung tù và Trịnh đình Cửu mất tích). Nên chẳng có một ai đủ vị thế để lột mặt xác ve ra trước công luận.

Đã có thời khắc rủi ro như thế, những kẻ theo cộng sản vào đầu thập niên 40 như Phạm văn Đồng, Lê Duẫn, Võ Nguyên Giáp , Nguyễn duy Trinh, Hoàng văn Hoan… có thể không biết chuyện của xác ve do Trung quốc đạo diễn, chỉ thấy Y được Trung cộng dồn hết tài lực vật lực vào hỗ trợ. Lại thấy những đảng viên tên tuổi khác như Hà huy Tập, Trần Phú, Lê hồng Phong… đã chết, nên đã chấp nhận Hồ Chí Minh như là một cứu cánh của thời cuộc. Bởi lẽ từ chốn rừng hoang thâm u, nếu không có cơm gạo, lương thực, súng đạn, tiền bạc, nhân sự của Trung cộng gởi sang chi viện, CS lấy gì mà sống, nói chi đến việc tổ chức chiến đấu với Pháp. Nên những thành phần này chẳng còn một lối đi nào khác ngoài việc phải ủng hộ và chấp nhận sự sai khiến của Hồ Chí Minh, mà quên hẳn đi cái họa tàu xâm lược nước ta từ hàng nghìn năm trước.

Kết quả, cái lầm lẫn không biết từ buổi ban đầu trở thành cái ngoan cố bệnh hoạn về sau. Nghĩa là, lúc về chiều có lẽ thành phần chóp bu này đã biết được toàn bộ sự thật về câu chuyện ve sầu thoát xác. Nhưng không thể, hay không đủ can đảm mở ra. Hoạc giả, cái rễ lệ thuộc của họ bám vào Tàu quá sâu đậm, nên không thể quay lại được nữa. Họ đành nhắm mắt, ngậm miệng cho qua đời mình rồi nghiệp chướng, nếu có, dành đổ lên đầu những người đi sau. Nói cách khác, họ có thể chết, đảng cộng sản có thể bị tiêu diệt, nhưng sự thật về Hồ Chí Minh dầu như có đầy đủ bằng chứng “ve lột xác”, tập đoàn CS cũng không bao giờ dám lên tiếng. Chính cái sự ngoan cố đến bệnh hoạn của tập đoàn lãnh đạo CS này đã là nguyên nhân gây ra cái họa trăm năm cho dân tộc và cho đất nước ta.

Ta phải làm gì đây?

Câu hỏi này buộc vào chúng ta. Theo đó, những người Việt Nam còn có chút lòng với quê hương và với dân tộc Việt Nam, không thể ngồi yên mãi. Trái lại, phải trả lời. Phải cùng nhau đứng dậy. Phải ra khỏi nhà. Phải làm một công việc nhỏ bé nhất, cùng nói với nhau về trường hợp ve sầu thoát xác của Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên, với sức tuyên truyền như thác dội của CS, người dân lúc đầu không để ý, cũng không tin. Nhưng chúng ta vẫn cương quyết làm công việc vạch mặt chỉ tên Hồ chí Minh là đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, là thiếu tá trong quân đội nhân dân Trung quốc xâm lược. Y không phải là Nguyễn Tất Thành nhưng giả danh nghĩa của Nguyễn Ái Quốc trong mưu đồ Hán hóa Việt Nam. Câu chuyện càng có nhiều người nói, càng có cơ lan truyền rộng rãi. Khi cả nước đều ồn ào thắc mắc, hoặc giả, khi có 60, 70% dân chúng, cán bộ cùng đặt vấn đề giải mã sự thật về Hồ Chí Minh thì đó cũng chính là lúc, người dân tự đứng lên giải thể chế độ cộng sản. Và Việt Nam sẽ bước vào kỷ nguyên khôi phục lại toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền. Trái lại, nếu chúng ta cứ ngồi yên như thóc ngâm, đảng CSVN không bị giải thể, chuyện con cháu chúng ta phải học tiếng Tàu ngay trên đất nước mình để tìm sống không phải là chuyện xa vời.

Vài điển hình dối trá của cộng sản


Vài điển hình dối trá của cộng sản

Le Nguyen (Danlambao) - Cộng sản có nhiều tật xấu, ác - trong đó có tật nói dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm là “đỉnh cao trí tuệ” của cộng sản Việt Nam. Dối trá của cộng sản có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan và dối trá là dối trá không một ai bận tâm đến chủ quan hay khách quan vì dối trá là mặt tiêu cực chỉ gây hại cho cuộc sống con người. Đặc điểm của dối trá cộng sản là dù bị lật tẩy vẫn cố cãi chày cãi cối, cãi lấy được... cãi trơ trẻn đến độ người hiểu biết trung bình vô tình nghe thấy cũng cảm thấy xấu hổ, nhưng với những tên cán bộ, quan chức Việt Cộng đa phần nếu không nói là hầu hết không còn biết nhục nhã, xấu hổ khi nói láo bị lật mặt, chúng vẫn cứ lỳ, cứ trơ mặt ra không biết mắc cỡ là gì?

Cố tật nói láo với bản chất độc ác của cộng sản có hằng hà sa số như bát quái trận đồ, khó có bút mực nào tả siết, vì cộng sản cứ truyền đời dối trá từ thế hệ cộng sản này sang đến thế hệ cộng sản khác nên không thể ngăn chận hay loại trừ. Do đó những bài viết, những tài liệu ghi lại dối trá của cộng sản chưa thống kê đầy đủ, chưa khô mực thì dối trá cộng sản tràn tới từ trong hiện thực đời sống hợp cùng với rừng tin tức, sách vở định hướng dư luận theo chỉ đạo của tuyên giáo trung ương đảng cộng sản, muôn hình vạn trạng không sao kể siết.

Đặc biệt dối trá của cộng sản từ cộng sản lãnh đạo đến cộng sản thừa hành thường có cùng một bài bản khi bị vạch mặt dối trá, là cãi trước cái đã...kế đến là chối tội, cuối cùng là khi dối trá bị bắt gặp quả tang với bằng chứng hiển nhiên không thể phủ nhận thì chúng chuyển qua đổ thừa cho đủ thứ nguyên nhân trên trời dưới biển... Cho dù lời lẽ đổ thừa không đủ cơ sở lý luận hợp lý hay lý luận rất trẻ con nhưng chúng cũng không ngần ngại “cãi - chối tội - đổ thừa” cho hành vi dối trá của chúng.

Không ai lạ với bản chất dối trá mang dấu ấn thuộc bản quyền, độc quyền cộng sản và dối trá cộng sản khó có “đối thủ” cạnh tranh nói láo với những tên cộng sản Việt Nam. Nếu có ai đó vui miệng khen tài nói láo của cộng sản thì chúng lại nhảy dựng lên bảo là xuyên tạc, nói xấu, chống phá...với hàng hàng lớp lớp ngôn ngữ cộng sản xung phong ra trận tràn ngập cứ điểm “tự do ngôn luận” được bảo đảm trong hàng rào xã hội chủ nghĩa. Từ gốc độ đó chỉ ra dối trá cộng sản là “vô địch” dối trá, “thiên tài” dối trá mang tính đặc thù gắn nhãn mác cộng sản Việt Nam.

Thực tế chỉ ra kho tàng dối trá cộng sản do tuyên giáo cộng sản biên soạn, tàng trữ ngày càng đầy thêm và nó được cán bộ tuyên giáo cấy vào đầu các con cộng sản nên một sớm, một chiều rất khó để tẩy xóa, gột rửa. Do đó dối trá cộng sản thuộc về quá khứ xa lẫn quá khứ gần, cho dù ai đó có thiện chí, kiên nhẫn cách mấy cũng khó mở mắt cho những kẻ mù đảng tin tưởng vào những điều dối trá giàu tính hư cấu, tưởng tượng của những cuốn tiểu thuyết lãng mạn cách mạng, những bộ phim truyện thần thoại đậm chất đảng tính này.

Nền tảng lý luận của bộ phim thần thoại “bác”, của bộ tiểu thuyết “đảng” đã biến những tên cán cộng trở thành những tên nói dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm. Thậm chí chúng tưởng những điều dối trá của bác đảng là thật và sẵn sàng phùng mang, trợn mắt chửi bới, gán ghép “thế lực thù địch, phản động, nói xấu, chống phá...” cho bất cứ ai vạch trần sự dối trá của bác đảng, của nhà nước cộng sản Việt Nam.

Những tên cộng sản dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm từ vô danh đến hữu danh, từ tên cán bộ cắc ké đến tên cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp của đảng cộng sản không người dân nào là không biết và nếu không trưng dẫn bằng chứng hiển nhiên không thể chối cãi cũng khó cãi lại chúng.

Điển hình của một số vụ việc “ cãi - chối tội - đổ thừa” của một số lãnh đạo cộng sản dối trá bị lật mặt nạ trong thời đại tin học có những vụ điển hình như sau:

“Điển hình dối trá “một” là clip thu hình đảng viên Nguyễn Chí Đức bị “đồng chí” đại úy công an Phạm Hải Minh đạp vào mặt trong cuộc xuống đường biểu tình chống quân xâm lược Tàu Cộng trước mắt hàng trăm cặp mắt người dân ở thủ đô Hà Nội. Thế mà ông trung tướng Nguyễn Đức Nhanh Giám đốc Công an Hà Nội - trả lời báo chí dù thừa nhận sựthật không thể chối cãi về hình ảnh cảnh sát khiêng, đạp vào mặt một người đàn ông biểu tình tự phát lên xe bus là phản cảm. 

Thế nhưng ông Nhanh không quên cố tật dối trá đã nói thêm rằng: “...clip phát tán từ nguồn ở nước ngoài nên hiện chưa xác định được người đưa hình ảnh lên mạng. Chúng tôi cũng không thể xác định được clip có bị cắt ghép chỉnh sửa gì hay không?...” 

Điển hình dối trá “hai” là clip thu hình hai phóng viên đài VOV bị đánh đập thô bạo trước mắt hàng ngàn người dân trong vụ cưỡng chế, thu hồi đất ở Văn Giang. Vậy mà ông Nguyễn Khắc Hào phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên thản nhiên báo cáo “láo” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong Hội nghị trực tuyến là lực lượng cưỡng chế đã thực hiện tốt các phương án đề ra, đảm bảo an toàn không ai bị thương. Ông Hào còn mạnh miệng khẳng định video clip ghi lại hình ảnh nhiều người bị công an sắc phục và nhân viên thường phục đánh hội đồng là dàn dựng giả mạo để vu khống bôi nhọ chính quyền. 

Điển hình dối trá “ba” là clip Ngư dân bị côn an, dân phòng cướp tôm mang về... uống rượu đã khiến dư luận bày tỏ phản ứng gay gắt trước hành vi cướp cạn giữa ban ngày của lực lượng công an, dân phòng đối với ngư dân Thanh Hóa. Thế mà ông chánh Văn phòng Công an tỉnh Thanh Hóa, đại tá Trần Văn Thực trong cuộc trả lời báo đài nhà nước đã bạo mồm, bạo miệng tuyên bố nội dung đoạn clip là những hình ảnh ghép, không có thật nhưng ông ta không thể chỉ ra được chỗ nào là ghép.”

Ba dối trá trơ trẻn phát ói điển hình của quan chức lãnh đạo cộng sản vừa nêu chỉ là chuyện nhỏ so với những dối trá kinh hoành khác của dối trá cộng sản. Chẳng hạn như việc công an đánh chết người dân trong đồn khi tạm giam, tạm giữ đều được báo cáo “láo” là do tự tử và nhìn thương tích trên thân thể dẫn đến cái chết của bị hại, đến đứa con nít cũng có thể biết được chết là do tra tấn, nhục hình nhưng những kẻ gây tội ác giết người không có ai chịu trách nhiệm, không ai bị làm sao cả.

Thậm chí những kẻ gây tội giết người bị thân nhân người bị hại có đủ đầu mối, bằng chứng để những kẻ gây ra tội phải trả giá cho tội ác của chúng gây ra. Thế nhưng những cá nhân, cơ quan điều tra có trách nhiệm truy tố nghi phạm ra tòa để trả lời những việc của chúng làm, lại đưa ra kết luận dối trá lộ liễu là không đủ yếu tố buộc tội như trường hợp của Nguyễn Công Nhật bị đánh chết ở trại tạm giam tỉnh Bình Dương, vợ bị đòi tiền hối lộ, bị gạ tình có thu âm vẫn không đủ yếu tố buộc tội?

Đáng kinh tởm nhất cho những dối trá đặc biệt nghiêm trọng này là không có những kẻ trực tiếp lẫn gián tiếp gây tội ác giết người bị trả giá, bị trừng trị thích đáng. Những kẻ giết người dã man, lem lẻm chối tội loại này đa số đều nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật vì theo cơ quan “điều tra” là không đủ yếu tố buộc tội để truy tố ra tòa. Hài hước hơn là nếu như đủ bằng chứng phạm tội không thể chối cãi thì những tên côn an phạm tội được bao che, đưa vào khung hình phạt nhẹ nhất có thể, mang nặng tính hài hước hơn là “xử đúng người đúng tội...vi phạm tới đâu xử tới đó...không bao che...” như các quan chức cộng sản quen mồm nói láo, không người dân nào là không biết! Cụ thể là trường hợp tòa xử án tốp sĩ quan công an tra tấn tàn độc làm chết nạn nhân Ngô Thanh Kiều ở tỉnh Phú Yên.

Ngoài ra “dối trá cộng sản” còn biến tướng để trở nên quái đản, kinh dị hơn hẳn những bộ phim do con người giàu óc tưởng tượng làm ra. Cụ thể như quan niệm đạo đức được cộng sản nâng lên tầm “đạo đức cách mạng” không giống như nền tảng đạo đức truyền thống của loài người hiểu và khinh qua. Đạo đức cách mạng cộng sản đồng nghĩa với giết người cướp của, giết càng nhiều người, càng độc ác càng dễ trở thành vĩ nhân, dễ được tôn lên thành thánh để được cường quyền dựng tượng, lập đền cưỡng ép người dân bái lạy thờ phượng. Trong thời đại tin học ngày nay, rất íy người không biết đạo đức cộng sản, thánh cộng sản tên nào tay cũng nhuộm đầy máu đồng bào đồng loại và những ông thánh cộng sản, mỗi ông ít nhất cũng từ vài trăm ngàn, vài triệu cho đến vài chục triệu mạng người như Lenin, Stalin, Mao, Kim, Hồ...là những ông thánh được dựng tượng thờ phượng mang tính đặc thù cộng sản như vừa bàn đến!

Thực ra cộng sản cũng không dám lộ liễu đi quá xa quan niệm truyền thống chung về đạo đức, về thánh nhân được đúc tượng, tạc tượng, dựng tượng cho loài người thờ phượng noi gương, làm hình mẫu sống cho hậu thế học tập, làm theo. Điểm khác biệt về đạo đúc, về thánh nhân là cộng sản với công cụ tuyên truyền dối trá, công cụ bạo lực khủng bố của nòng súng, nhà tù kể cả ám sát thủ tiêu, giết người bịt miệng, biến đen thành trắng, sửa đổi sự thật lịch sử, thêu dệt hào quang lãnh tụ, tẩy xóa tội ác của các tên bạo chúa, độc ác gian manh cộng sản để biến thành thánh cộng sản với công đức cao dầy, tài năng xuất chúng, xuất quỷ nhật thần có một không hai trong tiến trình hình thành, tổ chức và phát triển xã hội loài người.

Những chiêu trò dối trá, dối lem lẻm, dối không biết run sợ, dối không biết ngượng mồm, biến không thành có, biến cái vô đạo đức thành đạo đức, biến ác quỷ thành thánh nhân của cộng sản đã bị lật tẩy trong thời đại tin học nhưng dối trá cộng sản vẫn chưa được ngăn chận và đẩy lùi.

Ngay cả những người sống trong lòng cộng sản, sống trong chiếc nôi cộng sản, lớn lên trưởng thành, thành danh và nắm giữ những chức vụ, quyền lực quan trọng trong hệ thống tổ chức cộng sản, có đủ kinh nghiệm lẫn trung thực để nói về bản chất dối trá cộng sản, thừa nhận dối trá cộng sản như ông nguyên tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô, Gorbachev kết luận “...Tội đã hiến dâng nữa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn nói rằng đảng cộng sản chỉ có tuyên truyền và dối trá...” hay nhà văn Nguyễn Khải, đaị tá quân đội nhân dân kết luận cộng sản chi tiết hơn “...Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra…”

Qua trích dẫn lời nói cũng như trưng dẫn vài ba sự việc cụ thể liên quan đến dối trá của các lãnh đạo trung, cao cấp cộng sản còn sống hoặc đã chết, cựu lãnh đạo lẫn đương quyền lãnh đạo, đủ chứng thực bản chất dối trá cộng sản mang tính “di truyền” là có thật, không thể biện hộ hay chối cãi. Tất cả trích dẫn lẫn dẫn chứng đều lấy từ nguồn của các quan chức cộng sản mà không sử dụng nguồn của các cá nhân “phản động”, tổ chức “thù địch” để đảng, nhà nước cộng sản có cơ sở đổ thừa là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu, chống phá…

Từ nền tảng dối trá cùng với nhiều tật xấu khác, đảng cộng sản Việt Nam cướp chính quyền, giành độc quyền lãnh đạo nhà nước – xã hội đã gây ra tai họa làm băng hoại xã hội, đạo đức suy đồi, đất nước tan hoang và với nền tảng xấu ác, độc quyền lãnh đạo, đảng cộng sản đã dìm dân nước xuống đáy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến không lối thoát. Do đó để đất nước cất cánh bay lên ngang tầm các nước trong khu vực, bắt kịp các nước văn minh tiên tiến hòa nhập vào giòng sống nhân loại, không còn cách nào khác là phải xóa bỏ độc tài toàn trị, loại bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam bởi vì như cựu tổng thống Nga Boris Yeltsin, nguyên lãnh đạo cao cấp cộng sản Nga tuyên bố “…Cộng sản chỉ có thay thế chứ không thể cải sửa được…” và cộng sản cai trị đất nước trên nền tảng dối trá, với những quan chức dối trá độc quyền quyền lực nhà nước thì không thể thực hiện được mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh!