28.4.13

CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNG 1

SỐ 1—NĂM I NGÀY 1 THÁNG 11 NĂM 2011


CHỐNG TÀU DVIỆT CỘNG

CHỦ TRUƠNG

Chủ trương của Chống Tàu DViệt Cộng là gây ý thức về sự xâm lăng Việt Nam của

Trung Cộng và hành động tay sai bán nước của đảng cộng sản Việt Nam.

HÀNG HÓA TRUNG CỘNG ĐỘC HẠI

Sữa độc melamine

Melamine là hóa chất dùng trong kỹ

nghệ đồ nhựa như: phoọc-mi-ca, đồ

dùng nhà bếp, nệm, keo dán… Melamine

gây hại khi hít vào hay thấm

qua da. Tiếp xúc với melamine lâu

ngày sẽ gây ung thư. Tuy nhiên với

số lượng lớn vào người sẽ làm hư

thận.

Vào năm 2007, cơ quan Kiểm Tra

Thực Phẩm Hoa Kỳ phát hiện đồ ăn

xúc vật làm từ Trung Cộng nhiễm

melamine và đã gây cho nhiều thú vật

nuôi trong nhà bị ngã bệnh hay tử

vong.

Năm 2008, nhiều công ty sản xuất

sữa trẻ em ở Trung Cộng đã pha

melamine vào sữa. Hậu quả đã gây

cho 300,000 người bị bịnh, 50,000 trẻ

em phải vào bệnh viện cấp cứu và 6

trẻ em bị chết. Các công ty pha melamine

với nước vào sữa để kiếm lời

bất chấp có thể gây tử vong cho trẻ

em. Có khoảng 20% các hãng sản

xuất sữa ở Trung Cộng bán sản phẩm

nhiễm độc melamine.

Gạo nhựa

Gạo nhựa được Trung Cộng sản xuất

đã xuất hiện trên thị trường Việt

Nam. Gạo nhựa còn gọi là

Gạo Wuchang vì được sản xuất tại

thành phố Wuchang, Bắc TC. Gạo

này được làm bằng khoai lang hay

khoai tây xay nhuyễn rồi trộn với một

loại resin tổng hợp để làm kết dính.

Gạo nhựa nấu không chín, hột cơm

vẫn nguyên vẹn và không dính vào

nhau. Các hột gạo nhựa có kích thước

rất đều và màu sắc giống nhau.

Quần áo lót phụ nữ gây viêm

nhiễm

Ở Việt Nam, quần áo lót rẻ tiền

“made in China” được ghi nhận đã

gây ra những triệu chứng ngứa ngáy,

phỏng rát cho người dùng do các

phẫm nhuộm màu tổng hợp chứa

nhiều hợp chất gây dị ứng cho da, đôi

khi làm lở loét vùng cọ sát giữa quần

áo và cơ thể.

Trà tàu nhiễm độc chì

Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu

ở các đại học Trung Cộng, 47% trà

tàu chứa chất chì vượt quá giới hạn

cho phép. Nguyên do của sự việc này

bắt nguồn từ cách thức sấy khô và

đất trồng bị nhiễm hóa chất sát trùng

có thành phần hóa học như arsenic,

thủy ngân, chì… Nhiều nơi phơi trà

bên lề đường với xe cộ chạy qua lại

phun khói xăng (xăng dùng ở bên

Tàu là loại có chì) và bụi đất lên trà.

Dầu ăn đƣợc tái chế biến từ dầu

phế thải

Dầu này còn được gọi là “dầu cống”

vì nguyên liệu chính là dầu thải của

các nhà hàng được các con buôn hút

lên từ cống thải. Dầu cống sau khi lấy

lên được tẩy trắng bằng hóa chất và

nhuộm màu kỹ nghệ tùy theo từng

loại dầu. Khoảng 10% nhà hàng ở

bên Tàu dùng loại dầu này. Dầu cống

chứa đầy những chất gây ung thư

(carcinogen). Người có bệnh dị ứng

với thực thẩm nếu ăn vào có thể dẫn

tới cái chết bất ngờ.

Nhận định

Hàng hóa độc hại phát xuất từ Trung Cộng đã lan tràn khắp nơi đến nỗi cả thế giới phải lên tiếng cảnh báo. Điều

này dẫn đến cho người tiêu thụ câu hỏi về đạo đức nghề nghiệp và âm mưu tiềm ẩn đàng sau:

1. Tại sao nhà cầm quyền Trung Cộng, với mạng lưới an ninh dầy đặc có thể bóp chết bất cứ tiếng nói cá nhân

phản kháng hay phạt tội bất cứ người dân nào sinh đứa con thứ hai, lại không thể tìm ra cả một hãng xưởng lớn

và phân phối sản phẩm tới tay hàng triệu người?

2. Tại sao nhà cầm quyền Trung Cộng lại chính tay đầu độc ngay người dân mình?

(xin đón xem câu trả lời vào số báo tới)

27.4.13

SỰ THẬT CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA
































Bản chất và hiện tượng Của Cộng sản




Bản chất và hiện tượng của Cộng Sản
MX Lê Công Truyền


“Chẳng có gì về Cộng Sản là lỗi thời, dù có lập lại bao lần vẫn gợi dậy một cảm giác khủng khiếp, một tâm trạng hãi hùng”

Văn hào Soljenitsyne

Sau một thời gian du hí tại Hoa Kỳ hồi tháng 6 năm 2003, viên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trở về nước huênh hoang tuyên bố: “Trong thời gian tới, cần quán triệt tinh thần chủ động, sẵn sàng đối thoại thẳng thắn và xây dựng với những bước đi và biện pháp cụ thể, thực hiện chủ trương hòa hợp dân tộc, khép lại quá khứ, tiến tới tương lai...”

Ðọc qua câu tuyên bố ghi trên, người viết chợt liên tưởng đến các thuật ngữ “BẢN CHẤT” và “HIỆN TƯỢNG” mà CSVN thường dùng để biện hộ những hành vi tham nhũng, hối mại quyền thế của đảng viên các cấp: “Bản chất của đảng ta là ưu việt, các hành vi tham nhũng, hối mại quyền thế chỉ là hiện tượng”. Nói như thế, CSVN đã quên định luật “lượng biến đổi chất” của Karl Marx: giả sử “đảng ta” có thật sự “ưu việt” đi chăng nữa thì cái khối lượng tham nhũng, lạm quyền đang tràn ngập đất nước, phủ trùm toàn dân đã biến cái “bản chất ưu việt” thành cái “bản chất Mafia đỏ”. Thực ra, ngay khi mới chào đời, “đảng ta” đã mang “bản chất” tàn độc rồi! Bruno Bauer gốc Ðức, một học giả cùng thời với Marx, đã lên án chủ nghĩa Marxisme khi nhận định rằng chủ nghĩa này sẽ mang đại họa đến cho xã hội loài người. Thực tế đã chứng minh lời tiên tri này là đúng. Trên một thế kỷ sau, Robert Hue, Tổng bí thư đảng Cộng sản (CS) Pháp đã nhận định: “Cách mạng tháng mười ở Liên Xô và phong trào Bolchevisme là thảm kịch của nhân loại và là một tiến trình quái dị”.

Trong bài viết này, trước hết xin nêu vài thí dụ hàm chứa hai yếu tố hiện tượng và bản chất để có một ý niệm về hai yếu tố này hầu có thể xét hiện tượng và bản chất trong chế độ CSVN. Sau hết, thử phân tích một trường hợp điển hình để xem CS Hà Nội trình diễn một trong hàng vạn hiện tượng để che dấu bản chất bán nước, vọng ngoại của bọn họ.

I. VÀI THÍ DỤ LIÊN QUAN TỚI BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

1.Từ ngàn xưa, dân Nga đã có một ngạn ngữ mà họ thường nhắc cho nhau nghe để tránh bị lừa, có khi thân bại danh liệt hoặc phải vong mạng: “Con rắn độc chỉ đổi màu tùy nơi chốn nó nằm để lừa nạn nhân của nó, chứ nọc độc của nó vẫn là nọc độc.”

Trong truyện Kiều, nói về bản tính của Hoạn Thư, thi hào Nguyễn Du viết:
“Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao”

Trong vở kịch Britanicus, thi hào, kịch tác gia Racine của Pháp vào thế kỷ thứ XVII đã viết (lời của một vai trong vở kịch): “J’embrasse mon ennemi mais c’est pour l’étouffer”. Sau đây là câu chuyện: Narcisse tranh ngôi với anh, xem anh như kẻ tử thù mà đương sự đang tìm độc kế để ám hại; sau một thời gian khá dài bàn mưu tính kế, bỗng nhiên Narcisse thay đổi thái độ đối với anh: cử chỉ thân thiện, lời nói đượm tình huynh đệ. Sự kiện này khiến kẻ tâm phúc thắc mắc:” Khải tấu hoàng tử, vì sao ngài lại có vẻ thân thiết, trìu mến và dường như muốn cầu hòa với thái tử?”. Narcisse đã giải tỏa thắc mắc của thuộc hạ qua câu nói đầy sắt máu và tàn bạo: “Ta ôm hôn kẻ thù của ta, nhưng chính là để siết họng nó”

2. “Bản chất” mà chúng tôi tạm gọi là “thực” chính là nọc độc của con rắn, tâm địa ác độc của Hoạn Thư và lòng thù hận của Narcisse. Việc thay màu đổi sắc của con rắn, “thơn thớt nói cười” của Hoạn Thư và sự thay đổi thái độ của Narcisse chẳng qua chỉ là những “hiện tượng”, chợt hiện, chợt biến mà chúng tôi tạm gọi là “hư” được xử dụng để con rắn dễ ẩn mình, với nọc độc tiềm ẩn bên trong, ngụy trang lòng ghen tức của Hoạn Thư và nỗi căm hận của Narcisse.

Nói tóm lại, “bản chất” có tánh cách bất biến không sao thay đổi hay sửa đổi được. “Hiện tượng” có tánh cách biến đổi, nay thế này, mai thế khác, tùy hoàn cảnh. Ðừng quá ngây thơ để lầm lẫn “hiện tượng” với “bản chất”. Nhưng cũng đừng quá đa nghi và yếm thế để nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn là “hiện tượng”! Chỉ có thời gian và kinh nghiệm mới giúp chúng ta nhận định được đâu là “bản chất”, đâu là “hiện tượng”. Ông bà ta thường nói:
“Thức khuya mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết lòng người có nhân”

Lục Du đời nhà Tống có nói: “Thính tri bất như kiến tri, kiến tri bất như cư tri” (Nghe mà biết không bằng thấy mà biết, thấy mà biết không bằng ở mà biết). Ðồng bào miền Bắc sống dưới chế độ CS trên 50 năm, và đồng bào miền Nam trên 30 năm hẳn đã có nhiều kinh nghiệm về “hiện tượng” và “bản chất” của CSVN.

II. BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG TRONG CHẾ ÐỘ CSVN

Ðiểm qua cuộc đời trên dưới ¾ thế kỷ của đảng CSVN, người ta thấy “bản chất” của đảng này thật sự bất biến và cấu tạo bởi nhiều thành tố: bạo lực, hận thù, lừa bịp, vọng ngoại, độc tài đảng trị... Người ta có thể nói bạo lực, lừa bịp, hận thù là thánh kinh của CS, là xương tủy, là huyết mạch, là da thịt, là tim óc của người CS ở bất cứ dưới gầm trời nào.

Văn hào Alexander Soljenitsyne, người có quá nhiều kinh nghiệm với CS, đã viết: “Ði xe đạp từ mặt đất lên cung trăng còn dễ hơn là làm cho CS từ bỏ bạo lực và thay đổi tư duy”. Ðiều này cũng dễ hiểu vì mọi chế độ CS đều dựa trên nòng súng theo đúng nguyên tắc của Lénine và trong thế giới CS, càng tích cực chừng nào càng tàn bạo chừng nấy (1).

Raymond Aron, một học giả nổi tiếng người Pháp, đã nhận định: “ Tại Nga Sô, sự lừa bịp được định chế hóa. Nhà cầm quyền CS phải luôn luôn bóp méo sự thật để quần chúng không nhìn thấy chân tướng của CS là một con quái vật khát máu mang tên Xã hội chủ nghĩa.”

Bạo lực và hận thù của VC đối với người Việt không CS đã được ghi chép trong sử sách:

- Tàn sát người quốc gia -yêu nước- chống Pháp để giữ độc quyền thống trị đất nước hầu dâng nước cho CS đàn anh: Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng VC Phạm văn Ðồng, vâng lệnh Hồ chí Minh, đã gởi công hàm cho Tổng Lý Quốc Vụ Viện Chu Ân Lai, thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Cộng; cuối năm 1999 và năm 2000, CSVN đã âm thầm ký kết và lén lút phê chuẩn hai hiệp ước dâng đất và dâng biển cho Trung Cộng.

- Tàn sát cả một làng Láng Linh, mà cư dân là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo để trả thù việc PGHH chống Pháp và chống luôn cả Việt Minh CS (1947)
- Tàn sát hàng vạn nông dân vô tội trong cuộc “cải cách ruộng đất” để làm đẹp lòng quan thầy Trung Cộng và nhất là để thỏa mãn lòng “hận thù giai cấp” của bọn đồ tể trong Bắc bộ phủ (1956)

- Tàn sát hàng vạn đồng bào tại cố đô Huế hồi Tết Mậu Thân để trả thù việc đồng bào không “tổng nổi dậy” theo kế hoạch của CS Hà Nội (1968)
- Sau hiệp định đình chiến ký kết tại Paris, VC tiếp tục pháo kích vào các trường tiểu học để tàn sát các trẻ thơ vô tội, điển hình là trường tiểu học Cai Lậy và Song Phú (1974)

- Tàn sát cả một làng Tân Lập ở Xuân Lộc để trả thù việc Sư Ðoàn 18BB và quân dân cán chính Long Khánh đã anh dũng chận đứng sức tiến quân của CSBV, khiến cả mấy Trung đoàn của họ bị tiêu diệt (1975)

- Sau ngày 30.4.75, VC đã tập trung quân cán chính VNCH vào các trại tù khổ sai để sỉ nhục, đầy đọa. Hàng trăm ngàn người đã bị sát hại: xử tử, bó đói, không chữa trị. Có những chiến sĩ VNCH mù cả đôi mắt hoặc bị cưa chân vẫn bị VC tập trung “cải tạo”. Quả thật đúng là một cuộc trả thù tàn bạo và đốn mạt





--

 

"We forget that the water cycle and the life cycle ar

26.4.13

Hình ảnh đả nói lên












     XIN HỎI @ MÃI ĐẾN NAY HƠN 30 NĂM CHƯA ĐƯỢC MỘT LẦN ĐẢNG CSVN  ĐƯA LÊN DIỄN ĐÀN, NHỮNG HÌNH ẢNH CHỨNG MINH TÌNH NGƯỜI NHƯ THẾ NÀY ?
 Nhớ lại những ngày ở chiến trường Lộc Ninh
vnch-19.jpg
A PICTURE SAYS A THOUSAND WORDSHình Dung Lịch Sử và Tình Người Trong Cuộc Chiến Ý Thức Hệ
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiPoaYxxRS3i2yKWL-t3_YCfvCkjXDS3EXkioXTz_7bTdwqH3Ue8t2X-S85oPqjBAr0yutzfYCjESFwygG8EH4zDaLY_X1hJvS_OECVA8QEC7U825ialL3Jax0PUtzJ_gpVfZsBBz98GJ7b/s1600/412-FS1.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj2ZgOttGrOpMzF5trcFrWl9JMDyj9T4ZB6B2Ej6GGN34SU9cZXGQuJQ_VIcjtJSdzxRowSvzrd6MWnluMj7RTcdl-0hXd4OX27qr7NG2CZA8pdJQZMCvwjQwpqDpo_nfF3RayK985suRcq/s1600/TCS-1965.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjiORaS_2pRBO0ANomYAta7-igynC6oU-Z_zlMVzPriqGD1WArxzfrAe6FYxPmIhnSMKuxd_3LJUHJ3iHpvOFO7tkBirhs-3Rx4x3bWeEL16HOfks2_Ys6ECQZClTfbeNStkMppZJBvwfyD/s1600/VNCH2.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgdQ_TxqCZW1v7UTa9GIkIm7OxmEslzad-SOLRWN7PJtNG96NjKMwtUmerWUzBYhr4jWBIToBEV4sN0ZKaPI7j3hhOUZrVVkBQmyVKGpamUgzHTF0M11dZvNiimjC1IHhHWU8EuCImaUACV/s1600/saigon+1968.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhi9Wj1X2CmMsjWhvaRN7PJ1KPMmixOf0l0iNj5OB8AGJhMgoi9A1sJk_tPRtSt_nLZkq3KlT-nUzcCciD6CQv9DxySXxzOO_KGG40nQzgHmQcdUnqgSu_2v-feqGc8pseK7kurY5MO1gXR/s1600/paul-schutzer-us-marine-medic-running-along-beach-with-injured-vietnamese-infant-under-fire-during-vietnam-war.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjgsEVWn1CrpC8j133RbhN4KI6KN0OKd2bYwY0CFN8EiN1WuSwCMCvrXoQl29CG0jPEKoPe2YZ4w6rXy4-DWoLKPPO7VK4lcTG6JbtMYrBXmP_k0W9i-555QTYpVEKmiw4L5ZOJiFpo8oau/s1600/us+army+in+hue+1968.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgoXnL-PdIBdxUbaAo0PmjY86brQkhhxp9_DcHCCalltSLES75mPjGoWKe1laCS7ghyphenhyphenDhj01aDQX7Qrv_to95HpWCXxQiFMVKwYl0iO7CA1TMdbT7d6xEmsbvibbvX_mw3atZJwbN0_tD1R/s1600/Quy+nhon,September+10,+1965.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiE5-ZMtLpzwVBB0KEONnHnxJw00K0jDGwBPzITQGLqAjaCKtEflHuortzyQiiLQuhO2kuGqtLQ9aKcBr_CXxqDyko1UBVi54u6_rtfu13IngUCCNYvvpg7c1yewXMR_9PET1MMPn93kVfS/s1600/us+army+in+nam.jpg



25.4.13

Trí thức trước bạo quyền




Trí thức trước bạo quyền

Hay là

VAI TRÒ BIỂU TƯỢNG CỦA
TRI THỨC VIỆT NAM
TRƯỚC NỀN VĂN HOÁ THỨ BA
Trần Thanh Hiệp

Để mở lại Hồ sơ “trí thức” ở Việt Nam
            Nhân dân các nước vùng Bắc Phi Trung Đông đã nổi dậy, dưới nhiều hình thức khác nhau, với ý chí rõ rệt trục xuất ra khỏi vũ đài lịch sử những lãnh tụ và bộ máy cầm quyền độc tài, gian ác, tham nhũng, thối nát để thiết lập dân chủ.
            Trong khi đó, ở Việt Nam, trong nước, 50 nhà trí thức đã lấy sáng kiến đạo đạt lên tập đoàn cầm quyền đảng trị cộng sản ở Hà Nội, nguyện vọng và ý kiến của họ, mong thấy cơ cấu lãnh đạo này chu toàn nhiệm vụ chống xâm lược Trung Quốc, đối ngoại, mở rộng và củng cố quan hệ ngoại giao trên thế giới cũng như trong vùng, đối nội, cải thiện chế độ, thực hiện phát triển bền vững đất nước. Ở ngoài nước, một đằng, 36 nhân vật, nhân danh “trí thức hải ngoại”, đã gửi cho cho các “nhà lãnh đạo” cộng sản ở Hà Nội một “lá thư ngỏ” tỏ bày nguyện vọng trông đợi bộ máy cai trị đất nước sớm thực hiện một đợt cải cách cơ bản, có hiệu lực đoàn kết nhân dân, dân chủ hóa chế độ, xiết chặt hàng ngũ, chuẩn bị ứng phó với mối nguy ngoại xâm trước mặt, đến từ phương Bắc. Đằng khác, cũng từ nước ngoài, 14 nhà trí thức khác, đã lên tiếng bằng một văn thư, “chia sẻ [với nhà cầm quyền cộng sản ở Hà Nội] suy nghĩ về một cuộc cải cách toàn diện cần thiết - cải cách thể chế - con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để phát triển đất nước”.
Việc làm này của các nhân vật văn hóa nói trên, tuy vậy, chỉ gặp được sự im lặng kéo dài của phía cầm quyền, nhưng đồng thời, trái lại, đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi gay gắt ở phía dân chúng, nhất là trên các diễn đàn của người Việt ở ngoài nước.

Tình trạng đúng sai, phải trái lẫn lộn đã dẫn đến nhu cầu phải đặt lại cho rõ, trước công luận, vấn đề trí thức ở Việt Nam, đặc biệt về các mặt giá trị tri thức, vai trò, chức năng, trách nhiệm của trí thức trong đời sống xã hội. Mở lại hồ sơ “trí thức” như vậy là để thử trả lời cho câu hỏi đã được dư luận nêu lên, rằng, trước những sự thật hiển nhiên về bản chất phi-pháp, phi-nhân của chế độ cộng sản đang hiện hữu ở Việt Nam, trước những tội ác chồng chất  của chế độ này đối với nhân dân và, điều cần nhấn mạnh, trước sự kiện chế độ ấy đã cam tâm làm tay sai cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc - bá quyền vùng Trung Cộng - thái độ cũng như những ứng xử của các “trí thức” nhắc đến ở trên, có thể coi là thích đáng hay không?

Xin xác định ngay, việc duyệt xét này sẽ tạm gác sang bên cuộc tranh luận, chưa ngã ngũ, về các định nghĩa của danh từ trí thức, để chỉ chú trọng nhận diện, cho thật rõ thêm, hiện tượng xã hội có tên gọi là trí thức Việt Nam, trong quá khứ cũng như trong sinh họat chính trị chung hiện tại. Trí thức Việt Nam là những ai, họ đã giữ những vai trò xã hội nào và đã làm được những gì lợi ích cho đất nước v.v. ?

Ba ngộ nhận cần đính chính

Về điểm này có ba ngộ nhận cần được đính chính trước khi xét lại vấn đề trí thức ở Việt Nam.

Sự ngộ nhận thứ nhất là việc đồng hóa “kẻ sĩ “với “trí thức”. Vấn đề trí thức đã có tự ngàn xưa và dưới nhiều dạng thức khác nhau, cho nên có thể nói, nó đã được gắn liền với lịch sử, nó là một sản phẩm của lịch sử. Các dạng thức này thay đổi theo địa dư, bởi vậy, cái được gọi là trí thức ở phương Đông đã không giống cái được gọi là trí thức ở phương Tây. Tại Việt Nam, theo Nguyễn Công Trứ, kẻ Sĩ, nhân vật mang những tính cách mà ở phương Tây người ta coi như tương đương với trí thức, đã có vai trò xã hội [lâu đời rồi]: “tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt, dân hữu tứ sĩ vi chi tiên” (tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào; dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên). Nhân vật “kẻ sĩ” này, thật ra, đã được du nhập từ Trung Quốc, nhưng chỉ dưới dạng đơn giản hóa, nên loại  hình “Sĩ” ở Việt Nam và loại hình “Sĩ” ở Trung Quốc, cả hai loại hình này không đồng nhất về hình thức cũng như về nội dung. Dù vậy, cả hai loại hình “Sĩ” đó đều khác với những nhân vật được gọi là “trí thức” ở phương Tây. Giáo sư Diệp Khải Chính, Khoa Xã hội học Trường Đại học Đài Loan, chủ trì rằng nguồn gốc của khái niệm “trí thức” ở phương Tây có thể tìm thấy nơi hai từ “intelligentsia” (tầng lớp trí thức) và “intellectuel”, “intellectual” (người trí thức).

Intelligentsia là một lớp người ở Nga và ở Ba Lan, có kiến thức cao, có óc phê phán và có tinh thần phản kháng đối với hiện trạng xã hội, họ hình thành nên một tầng lớp riêng biệt trong xã hội.

Còn intellectuel, tiếng Pháp hay intellectual, tiếng Anh, đã được dùng để chỉ một mẫu người như nhà văn người Pháp, Emile Zola, ngày 13-01-1898,  đã viết một bức thư ngỏ gửi Tổng thống Pháp, dưới đầu đề “Tôi lên án”, đòi hỏi xét xử lại Vụ án Dreyfus, bất công, vì đã dựa trên vu cáo. Bức thư ngỏ này lại đã được đăng trên tờ báo “Tia sáng”, dưới tựa đề “Tuyên ngôn của giới trí thức” (Manifeste des Intellectuels). Từ đó về sau, Intellectuels là tiếng dùng để chỉ những nhà văn, nhà giáo, nghệ sĩ nổi tiếng về học thuật, dám công khai ngay thẳng phê phán nền chính trị đương hành và, do đó, nó trở thành trung tâm của ý thức xã hội đương thời. Điểm cần lưu ý, người “trí thức, Intellectuel”, tuy rất quan tâm đến đất nước nhưng không mang ý nghĩa giai cấp xã hội, mà chỉ phản ánh tâm thái cá nhân cùng vai trò của mình trong xã hội.

Vậy nhìn dưới độ góc từ ngữ, có thể nói, theo quan điểm được tỏ bày từ phía chính những nhà nghiên cứu Trung Quốc,  “Sĩ” của Trung Quốc cổ đại khác với “Trí thức” của Phương Tây thời cận đại ở 2 điểm cơ bản: 

Một, “sĩ” của Trung Quốc không truy cầu tri thức như trí thức Phương Tây, mà lấy tư tưởng Nh


-- 

24.4.13

‘Giá đừng phản chiến’

Giá đừng phản chiến’, một người Anh quốc từng tham gia phong trào phản đổi chiến tranh ở Việt Nam viết ...


 


‘Giá đừng phản chiến’

BBC - Cập nhật: 08:23 GMT - thứ tư, 24 tháng 4, 2013
Charles ở Slough, Vương quốc Anh, tự vấn phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Độc giả này viết:
“Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin lỗi người dân Việt Nam. Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì chúng ta đã góp phần đảm bảo cho chiến thắng của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta.

Lại nữa, hãy thử nghĩ xem nếu không có cuộc cách mạng này thì ngày nay Việt Nam đã tốt hơn như thế nào? Ba mươi năm chiến tranh, số người chết không kể xiết, thiệt hại và đau thương vô cùng lớn – tất cả chỉ để đem đến kết cục là một chế độ kinh tế Marxist không khả thi do một Đảng cộng sản suy đồi và tàn bạo lãnh đạo.

Hãy nghĩ xem giờ này Việt Nam sẽ như thế nào nếu họ trải qua 60 năm thị trường tự do giống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Singapore. Chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và lại không có chết chóc hay tàn phá.”

23.4.13

“Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc” Lúc Này Vẫn Còn Là Trò Bịp Bợm

“Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc” Lúc Này Vẫn Còn Là Trò Bịp Bợm
Nghịch Lý “Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc”
Cụm từ “Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc” nghe thì có vẻ “suôi tai”, nhưng thực tế, rất tế nhị và hiện còn nhiều nghịch lý chưa giải tỏa.  Không phải cứ sau một thời gian dài, 30 hay 40 năm chẳng hạn, đương nhiên nước bùn sẽ trong vắt để người ta có thể vui vẻ nhập cuộc “ta về ta tắm ao ta” một cách vô thưởng vô phạt, vô điều kiện, như một cuộc sum vầy vui thú “mại-dzô-trăm-phần-trăm”, hay nhẹ dạ, chín bỏ làm mười cho xong việc, huề-cả-làng. 
Trước hết, về mặt thuận tính, vấn đề “Hòa Hợp Dân Tộc” không thể có trước việc “Hòa Giải Dân Tộc”, nghĩa là phải “Hòa Giải Dân Tộc” bằng cách “hóagiải” hay giải quyết xong những vấn đề căn bản liên quan tới tình trạng chia rẽ, ly khai, phương hại dân tộc, mới có hy vọng đưa đến “Hòa Hợp Dân tộc”.  Vậy trong tương lai, nếu còn dùng những từ ngữ này, xin ưu tiên hóa và tham luận “cụm từ” này thành hai nhịp: “Hòa Giải” trước,  “Hòa Hợp Dân Tộc” sau.  Nếu ghép chung thì phải là “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc”.
Nguồn Gốc thuật ngữ “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc”
Cụm từ ngược chiều “Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc” hay thuận chiều “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc” đều bắt nguồn một phần nào từ tổ chức “Truth and Reconciliation Committee” [TRC, tạm dịch là Ủy Ban Sự Thật và Hoà Giải], được thực hiện vào năm 1995 tại Cape Town, căn cứ vào Đạo luật Xúc tiến Đoàn Kết và Hòa Giải Dân Tộc [National Unity and Reconciliation Act],[1] sau khi chế độ kỳ thị Apartheid đã bị  bác bỏ tại Nam Phi.  Mục đích của Hai phe thương thuyết [giữa Cựu Quyền Apartheid và các Tổ chức Giải phóng gồm có Nghị Hội Dân Tộc Phi Châu/African National Congress] là sớm thực hiện đoàn kết dân tộc bằng đường lối hoà giải, chú trọng đích thực phục hồi công lý [restorative justice][2] hơn là ra tay trừng phạt pháp định [punitive justice] theo đường lối tố tụng Nuremberg đối với các tội phạm Đức Quốc Xã. 

African National Congress logo
Ủy Ban TRC gồm một số thân hào nhân sĩ trung trực như Tổng Giám Mục Desmond Tutu (chủ tịch Ủy Ban), Dr. Alex Boraine (Phó Chủ Tịch UB), Mary Burton, Luật sư  Chris de Jager, Bongani Finca, Pumla Gobodo-Madikizela, Sisi Khampepe, Richard Lyster, Wynand Malan, Reverend Khoza Mgojo, Hlengiwe Mkhize, Dumisa Ntsebeza (Trưởng Khối Điều tra), Dr. Wendy Orr, Luật sư Denzil Potgieter, Mapule Ramashala, Dr. Faizel Randera, Yasmin Sooka and Glenda Wildschut.
Ủy Ban TRC phân nhiệm thành ba Tiểu Ban:
•
TB Điều tra Vi Phạm Nhân Quyền [The Human Rights Violations Committee];
•
TB Hòa Giải và Bồi Hoàn [The Reparation and Rehabilitation Committee];
•
TB Ân Xá [The Amnesty Committee].
Ủy Ban TRC thi hành các biện pháp ôn hòa “phục hồi công lý” căn cứ vào việc [a] thu thập tài liệu và nhận cung khai về những vi phạm nhân quyền, [b] để quyết định giải pháp sửa sai, bồi hoàn trên căn bản thuần công lý — pháp lý công bình — [equity justice] như hoàn trả, bồi thường, hồi chức, bù đắp tương xứng mọi thiệt hại trong quá khứ giao tranh, [c] và chỉ trừng phạt những sai phạm quá đáng, bất khả miễn trách vì lạm quyền, lạm dụng.  [d] Tất cả những quân, cán, chính đối tác đều được hưởng miễn trách hay ân xá [amnesty] nếu thi hành đúng mức nhiệm vụ giao phó, dù ở bất cứ phe nào.  
Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam có Thực Tâm và Khả Năng “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc” không?
Hơn 70 năm qua, từ lúc thành lập bán khai, rồi lộdiện, đảng phái và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không bao giờ tôn trọng nguyên tắc thực thi giải pháp “Hòa giải Hòa Hơp, ở bất cứ môi trường nào, từ liên hệ đồng minh chính trị tới cơ bản đối phó dân tộc, qua những giai đoạn sau đây:
•
Trong cuốn “Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển” của tác giả Trịnh Vân Thanh (Trịnh Chuyết), do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2008, có ghi như sau: “Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức “Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc“, nhưng sau đó Lý Thuỵ và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để (1)Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động. (2) Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân“.  Trong giai đoạn đó, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lý Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc, do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn.  Vậy, chính Hồ Chí Minh, ẩn danh Nguyễn Ái Quốc,  ẩn danh Lý Thụy đã phản “đồng chí” nhất thời của mình vì một quyền lợi nhỏ nhoi, và nhất là vì ghen ghét, tranh giành ảnh hưởng.  Tư Tưởng Hồ Chí Minh xây dựng trên căn bản bí ẩn, xảo trá, phản trắc, dùng người như vật dụng nhất thời [“vắt chanh bỏ vỏ”] để tiêu hủy [“thủ tiêu”], trao đổi khi hết cần tới, hay khi có lợi lộc khác. Đối với Hồ Chí Minh và các đồng chí cộng sản, cứu cánh biện minh cho phương tiện, kể cả thủ đoạn đê hèn nhất [la fin justifie les moyens].  Cái dã tâm là cứu cánh của họ không có mục đích chính đáng, vì phỉnh gạt, lừa lọc.
•
Ứng dụng tư tưởng căn bản trên, năm 1941, Đảng Cộng sản họp ở Cao Bằng đã quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội (Việt Minh) để ‘mượn đầu heo nấu cháo”, gây thêm lực lượng, kết tụ “đồng minh giai đoạn” dưới chiêu bài “ái quốc”, chống Pháp, giành độc lập: “Liên hiệp hết thảy tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật-Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”  Sau đó vài năm, thành phần cộng sản bắt đầu loại trừ các hệ phái quốc gia trong “Mặt trận Liên Việt”: Cán bộ cộng sản thẳng tay tiêu diệt các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân v.v., dù có lúc họ cùng nhiệt thành sát cánh chống Pháp.
•
Cũng theo chiêu bài lợi dụng “đồng minh nhất thời” trên, lực lượng cộng sản miền Bắc đã xâm nhập miền Nam và tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào năm 1960.  Lực lượng Việt Cộng miền Nam trá hình này sau 1975 cũng bị “thất sủng”, các lãnh tụ của “Mặt trận” cũng bị thủ tiêu, hoặc đi “cải tạo” như kẻ thù phản động.  Đồng chí hôm trước, kẻ thù hôm sau: Hòa Giải Hòa Hợp “Nhất Trí” ở đâu? Hỏi là trả lời: không hề có, ngay cả trong nội bộ đảng phiệt với nhau.
•
Đương nhiên, đối với kẻ bên kia chiến tuyến, khi là thành phần thua trận, kẻ thắng chỉ cần gọi họ là “ngụy”, là tội phạm lý tưởng, họ sẽ bị vơ vét của cải, cướp đoạt nhà cửa, đánh tư sản, rồi từng đợt, từng đợt đi “cải tạo”, nghĩa là “được” cải huấn tù đày, “được” tra tấn, hành hạ chục năm này sang chục năm khác, liên tiếp, theo khuôn khổ Gulag lao động vinh quang chính thống.  “Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc” ở đâu? Có chỗ nào gọi là “phục hồi công lý”, là ân xá, là đoàn kết dân tộc?  Người cộng sản Việt Nam tước đoạt nhân phẩm, tài sản và sức sống của người dân thất thế một cách tàn nhẫn, dã man.  Họ độc ác, khốn nạn hơn lũ mật thám thực dân Pháp đối với dân bản xứ, thời thuộc địa.  Kẻ thù đồng tộc, đồng chủng tệ hại như vậy, mặt mũi nào còn gọi nhau là “anh-em” được nữa?  “Hòa Giải HòaHợp Dân Tộc” hầu như vô nghĩa đối với người cộng sản, khi họ chỉ biết một chiều tư duy, một hướng nhìn, một hướng cai trị, một hướng sinh tồn: độc đảng, độc tôn, độc nhất, vô nhị, ngoài họ ra không còn ai nữa, dù sau họ là lụt lội, là phá sản.
•
Kể cả “đồng bào” của người cộng sản, dù được tuyên truyền tung hô là “dân làm chủ”, bất cứ lúc nào cũng sống trên đe dưới búa và dưới lưỡi liềm sát cổ.  Làm sao có “Hòa Giải Hòa Hợp Dân tộc” đối với gần 90 triệu người dân hôm nay, cũng như đối với ông cha họ trước kia đa số nông dân, khi đội ngũ chủ soái mác-xít trá hình “công bộc” chỉ biết nuôi dưỡng căm thù, tranh đấu giai cấp, đấu tố tư sản, đấu tố phú nông, sát hại địa chủ? Đó là những đợt “cải cách ruộng đất”, cố sát tập thể từ năm 1953 tại vùng Thanh Hoá, Liên Khu IV tới năm 1956, trên khắp miền Bắc, dưới sách động trực tiếp của Trường Trinh, Tổng bí thư Đảng và đương nhiên dưới quyền chỉ đạo của thủ lãnh Hồ Chí Minh.  Mọi chương trình hại dân, thổ phỉ đều rập khuôn theo mưu đồ Trung cộng.
•
Tội nghiệp, không những giới bần cố nông bị lợi dụng, phân tán, thanh lọc lẫn nhau, mà cả giới trí thức cộng sản, hay không cộng sản, cũng bị bôi bác, xếp hạng không hơn “cục phân”[3] [sic] của các lãnh tụ cộng sản — lũ lượt ăn phải đũa Mao.  Họ khinh rẻ nhau, khinh rẻ thuộc hạ. Dĩ nhiên, các nhà trí thức mất giá đến độ “phi thường”.  Trong những năm vừa qua, trước khi bỏ tù các các nhà dân chủ, trước khi bịt miệng, rẫy đuổi nhà tu hành, chính quyền Hà Nội thường đem công an và xã hội đen thẳng tay đổ phân người vào nhà các nạn nhân.  Họ đã “xử lý” như vậy đối với các thành phần ly khai như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Khoa Điềm, và gần đây, đối với gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy.
•
Kể cả nữ sĩ cựu trí thức cộng sản Dương Thu Hương đã có lần long trọng tuyên bố trước công luận Tây Phương: “Tôi trở lại Việt Nam là để ỉa vào mặt kẻ cầm quyền” (sic). [“Mon seul but, c’est déféquer sur les visages du pouvoir”]:[4]Tôi mong là một nhà trí thức như Bà, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng không dám nhúng tay vào chất nhơ bẩn như vậy, hay không nỡ có hành động hạ cấp như thế.  Tôi rất mong ngòi bút BIC mực nguyên tử của Bà chắc phải thơm tho hơn cái bô ô uế của Đảng nhà.  Nhưng có lẽ con người cộng sản tự đắc có thói  quen sinh sống với đồ thải vệ sinh thường nổi lềnh bềnh nơi cống rãnh tư nhân và công cộng, nên đã tạo dựng được một xã hội phôi thai với nền văn hoá phân-phối vô sản cộng sinh, cộng hưởng, như một thứ nhân cách tính nhị đẳng [seconde nature], từ từ diễn tiến ngấm nhập thành chính gốc, thành chính thống.  Người Hà-Lội ngày nay nà thế [sic].  Họ trân trọng “hoà giải hoà hợp nhau” tận tình phân bộ như vậy, với thứ văn minh vô sản rẻ tiền của dân tứ xứ gốc “Kẻ-Noi”[5] truyền tụng lại.
•
Còn thành phần những người Hà Nội trước 54, khi phải di cư vào Nam, rồi phải tỵ nạn nơi “đất khách quê người”, nay thấy đau lòng khi được tin Bà Irina Bokova, Tổng Giám đốc Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chính thức từ chối công nhận Phố Cổ Hà Nội là di sản văn hóa thế giới.  Muối mặt hơn thế nữa, khi phải nghe sự thật phũ phàng là  “…Tháp rùa của các bạn đã được “vôi ve” từ cách đây 20 năm, cùng đợt với ngôi chùa Trấn Quốc…Ủy ban điều tra độc lập cho rằng Tháp rùa chỉ có tuổi thọ là 20 và vẻ cổ kính là ngẫu nhiên khi chất lượng vôi ve thấp và được làm cẩu thả một cách tình cờ…[NHƯNG] Thật thích thú khi đi trên phố Hàng Bạc chúng tôi bất ngờ bắt gặp một nhà vệ sinh trên ban công tầng hai. Nếu các bạn gìn giữ được những di tích này, hy vọng trong tương lai, Unesco sẽ xem xét lại việc công nhận cho Hà Nội”.[6]  Đau quá, cả một thành phố trước đây mơ mộng, đã từng được yêu chuộng, ca tụng bởi bao nhiêu thế hệ văn thi sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, cái nôi văn minh cũ kỹ của dòng hậu duệ Âu-Lạc, Hùng Vương, qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, nay nhờ Bác và Đảng “vôi ve” kỹ lưỡng bằng giáo điều vô sản, nhưng cũng khá cẩu thả, thiếu mỹ thuật về mặt thực hành, nên chưa được trả giá bằng cái “nhà vệ sinh trên ban công” nội thành.  Phấn sáp tới mấy, “vôi ve” tới mấy, công trình cộng sản tu bổ thành trì, đất nước vẫn lòi cái đặc tính…bần-cán-vệ-sinh tuồng hề của họ.  Hay cụm từ “Hoà Giải Hoà Hợp Dân tộc” cũng đã được người cộng sản Việt Nam “vôi ve” tương tự, như đã từng vôi ve thành trì và tư tưởng cổ hủ của họ, theo đúng chỉ thị và tiêu-chuẩn phân-bón của Đại Lãnh tụ Mao-Thế-Tôn.
•
Vậy, căn cứ vào quá khứ và hiện tình đất nước, khách quan phải khẳng định rằng cho tới ngày nay, Nhà nước cộng sản Việt Nam không thực tâm và cũng không có khả năng “hoà giải hoà hợp dân tộc” khi hệ thống ”Công An Nhân dân Chỉ Biết Còn Đảng, Còn Mình”, và khi Đảng gốc vẫn hèn với giặc, ác với dân.
Không Thể Hòa Giải Hòa Hợp Suông Hay Ngớ Ngẩn
Cần nhấn mạnh: cả hai hình thức “cầu hòa” này không thể giao hàng “suông”, mời mọc đãi môi, một cách trống rỗng, kiểu rẻ tiền “quên đi, xoá bài làm lại”.   “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc” không thể thực hiện một cách dễ dàng như một cảnh ảo thuật, hú hoạ bất chiến tự nhiên thành, khi hai bên đối tác [nếu không muốn nói là hai “kẻ-thù”] vẫn còn màu cờ sắc áo rõ rệt, vẫn còn hăng say chào đón nhau với những khẩu hiệu chống đối kịch liệt, không đội trời chung. Về mặt “giao lưu văn hoá”, người cộng sản có nhiều ngôn ngữ miệt thị trắng trợn, cục mịch, ghê gớm khi nhắc tới không gian “ngụy” [sic] này.
Nhưng 38 năm trước, cứ nghe mà đừng tưởng bở: ngay buổi lễ tiếp thu Sài Gòn, Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quản, đã phát biểu trước mặt Tổng Thống chớp nhoáng Dương Văn Minh: “Trong cuộc chiến đấu lâu dài này không có ai là kẻ thắng, ai là kẻ bại. Toàn quân và toàn dân Việt Nam là người chiến thắng…” Rồi Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên gặp bại tướng Nguyễn Hữu Có cũng đã cầm tay mà nói: “Chào mi, ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến nhưng nay ta đã là hai anh em”. 
Hoan hô nhị vị “hiền tướng” cộng sản gộc, và chỉ vài ngày vài tháng sau, đã khởi đầu bầy toả một không gian và một thời gian “đổi đời” khốn khổ, khốn nạn nhất cho “toàn quân và toàn dân” miền Nam, trong dòng lịch sử hiện đại.  Hóa ra  “Anh Em”, “toàn quân và toàn dân Việt Nam” chỉ là những xảo ngôn, dối trá, “nói-dối-như-vẹm”.[7]
Kể cả những ý nghĩ tạm gọi là sáng giá của ông Võ Văn Kiệt, “…ngày 30 tháng 4, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn”, cũng chỉ có tính cách hiển nhiên nói lên một sự thật phũ phàng, kiểu “vérité de La Palice”,[8] hay sự-thật-bằng-thừa mà cả Dân Tộc Việt, những người-trong-cuộc, ai cũng biết suốt mấy chục năm qua, trước cả thời điểm tỉnh ngộ của vị cựu Thủ Tướng Cộng Sản này. 
Còn câu nói của cựu đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung: “Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình” … lại có tính cách kẻ cả dạy đời, nhưng chỉ có thể áp dụng cho bên thắng-thế-nhờ-hận-thù.  Thật vậy, chỉ kẻ chủ trương đấu tranh giai cấp, đấu tố địa chủ, đánh tư sản, hành hạ bỏ tù các nhà dân chủ đối kháng mới cần xếp dỡ hận thù, mới cần ăn năn sám hối.  Không biết hai ông Võ Văn Kiệt và Võ Văn Sung-Paris có ý đồ nghĩ rằng những người phải nghe lời tuyên truyền suông này toàn là thứ “ngớ ngẩn”, loại con-nai-vàng-ngơ-ngác-cách-mạng-mùa-thu, hay chính quý ông cũng ngẩn ngơ theo kiểu đó.  


Vài Nhận định bổ túc về Lời lẽ “ngoại giao” của Ông Nguyễn Thanh Sơn

Ngày 31 tháng 3 năm 2010, ông Nguyễn Thanh Sơn, thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam [đặc trách Ủy Ban Nhà Nước về người Việt Nam ở nước ngoại], có gửi thư đến Washington, DC. đề nghị Dân Biểu Cao Quang Ánh dẫn tới gặp cộng đồng người Việt để hội thảo, nhằm xoá bỏ những “ngộ nhận và hiềm khích” …vì cộng đồng “còn thiếu thông tin đúng đắn về Việt Nam và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam”.

Sau khi nhận được công-văn-ngoại-giao [không mấy sáng sủa, trình bày lem-nhem] dụ dỗ chính khách Hoa-Kỳ, Dân Biểu Cao Quang Ánh đã khước từ một cách khá rõ rệt[9] [dù trước đây, ông Dân Biểu Mỹ gốc Việt, khi về Nước, đã bị ông Thứ trưởng tân thời, sơ-mi sọc, cà-vạt đỏ, năng nổ ôm vai bá cổ, kiểu “ngoại-giao-không-mấy-ngoại-giao”].  Chúng tôi xin đóng góp thêm một số nhận định liên hệ tới những lời lẽ thô sơ của ông TTNG Nguyễn Thanh Sơn, như sau:
 “Ngộ Nhận…” 
•
Hơn 3 triệu Người Việt tỵ nạn cộng sản, đã từng đợt bỏ nhà bỏ xứ, liều lĩnh ra nước ngoài để thoát cái hiểm hoạ cộng sản, hiển nhiên không hề “ngộ nhận” gì cả, vì họ đã đích thân nếm “mùi vị” cộng sản, vừa chua cay, vừa tàn khốc, đến độ nguy hại tới tính mạng, tới ý nghĩa căn bản của cuộc sống.  Họ không hề lầm lẫn, vì những kinh nghiệm khủng khiếp mà họ từng biết trong xã hội tù đày cộng sản vẫn theo đuổi họ bằng những hậu ứng, những vết thương sâu đậm.  Hơn 3 triệu người này đều là nạn nhân, hay con cháu nạn nhân của một hay nhiều ngược đãi, vi phạm, phương hại trầm trọng đã xẩy ra từ những năm 1925 tới bây giờ, hơn ba phần tư thế kỷ.
• Hơn 3 triệu người này đều là tỵ nạn chính trị, hay nạn nhân kinh tế thường xuyên bị bóc lột, bỏ khổ, bỏ đói nơi quê hương bất lực, vô trách nhiệm, có lúc mang trạng thái của một “cha-ghẻ” ghê tởm, ác độc, ruồng bỏ con cái, phá vỡ gia thế, trắng trợn vô nhân đạo, bán đất, bán người. Cái nạn cộng sản phải khủng khiếp như thế nào mới đẩy người dân, từ nam chí bắc, bỏ chạy thoát thân, dù họ biết trước, sẽ có cả trăm ngàn người thất bại, trôi sông trôi biển, bỏ xác giữa rừng, giữa núi. Ai ngộ nhận? chắn chắn không phải là những tỵ nạn cộng sản rồi.


“Thiếu thông tin đúng đắn về Việt Nam”

• Hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn chính trị, kinh tế, nay ở những mảnh đất tự do, có đầy đủ thông tin, tài liệu, sách báo cởi mở, đúng đắn, không bị kiểm duyệt, không bị đe doạ, bịt mắt, bịt tai, nên họ có rất nhiều cơ hội tìm hiểu mạch lạc, rõ rệt, đầy đủ tin tức về mọi việc xẩy ra trên khắp thế giới, kể cả cái không gian bưng bít, hoả mù của Nhà nước cộng sản Việt Nam. Người Việt Hải ngoại biết rõ từng tên cộng sản tham nhũng, cờ bạc, ăn bẩn, đúc cầu giả, giết người thật, bỏ tù thật, đổ phân thật, ngu xuẩn thật. Họ biết rõ nhà cửa vôi ve tuồng hề của từng tên cán bộ to, nhỏ. Họ biết rõ đời sống khốn đốn của dân chúng sinh tồn tạm bợ nơi vỉa hè, chốn ngoại ô, cuối làng xóm ngập lụt, ô uế, thiếu vệ sinh, nhiều mánh khoé gian lận, nhiều mafia xã hội đen, nhiều cán bộ công an đói khát, mỗi lúc khảo sát “đầu tiên” và “tiền đâu”.

• Hơn 3 triệu người Việt hải ngoại biết rõ đội ngũ lãnh tụ cộng sản, từ Bắc Bộ Phủ tới cấp tham mưu địa phương đều nhúng tay vào việc bán ranh giới, cầm đất Tây nguyên, chia đảo, bán rừng, bán người lao động viễn biên, bán dâu hầu xứ người, đến nỗi nhà lập pháp Hoa Kỳ[10] đã phải gọi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam là “pimps”, là “ma-cô” thứ-thiệc.

• Về mặt văn hoá, lịch sử dân tộc, người Việt hải ngoại có căn bản điều nghiên, truyền bá khai tâm, duy trì và chuyển tiếp căn bản truyền thống dân tộc Việt một cách trân trọng, đúng đắn. Người làm văn học, viết sử hải ngoại có khả năng và trách nhiệm so sánh dữ kiện toàn bộ khi họ tự do đối chiếu với những nguồn gốc tài liệu chân chính trên khắp thế giới. Chỉ riêng trí-thức-cán-bộ cộng sản mới phải viết lại lịch sử, ngụy tạo tài liệu văn hoá để chữa chạy, bênh vực tư tưởng mác-xít mà họ và thầy trò họ ngoan cố be bờ: có “đảng, có ta”.[11]

• Nếu sám hối kịp và còn chút thiện chí cuối chiều, đội ngũ cộng sản nên ở nhà-ta đối thoại ngay với người dân trong nước, để bạch hoá hiện tình nguy ngập của đảng và của dân, bị vạ lây. Chính 80 triệu người dân trong nước mới cần tìm hiểu nhiều hơn, vì họ vẫn còn bị chế độ cộng sản bịt mồm, che mắt, bít tai, khoá họng. Chính người dân trong nước mới cần hiểu biết thêm, một cách rõ ràng, sáng tỏ, tử tế, trung thực [nếu có phép lạ]. Chứ tới nay, cả ngàn cơ sở báo chí, truyền hình truyền thông trong nước, chẳng qua cũng chỉ là những cái máy sao y bản chính của cơ sở tuyên huấn giáo điều cộng sản, chẳng ích bổ hơn gì, sau bao nhiêu năm toa rập. Dân trong nước vẫn mù mịt, khờ khạo, ngơ ngác. Kể cả những cán bộ cộng sản tép, còn lơ lửng vòng ngoài.

“Hiềm Khích… Tư Tưởng Hận Thù Cùng Những Lời Nói, Việc Làm Chống Lại Nhà Nước Việt Nam”

• Người Việt hải ngoại sống đời sống tự do, đầy đủ an sinh, trí tuệ. Gia đình yên ấm, con cái tử tế, thành đạt. Họ còn gìn giữ được truyền thống nhân bản, lễ độ gia giáo. Họ học hỏi thêm cách đối xử công bằng, lịch thiệp, ôn hoà, căn cứ vào quyền hạn và trách nhiệm công dân cởi mở, trọng pháp, trọng sinh. Người Việt Hải ngoại có kiến thức, có đức độ căn bản vì sống gần gũi với hoàn cảnh xã hội bình đẳng, thân thiện, đầy đủ cơ hội và phương tiện cải tiến, thực thi tốt lành.

• Vậy người Việt hải ngoại không sống trong cảnh huống “hiềm khích, hận thù” như trong những xã hội mánh mung, cướp giật lẽ sống khi còn bị cộng sản kiểm toả, giam hãm trong nghiệt ngã thiệt thòi, trong bí ẩn, gian lận, phũ phàng.

• Tuy bị Nhà nước cộng sản ruồng bỏ, hắt hủi đến độ phải ly khai, bỏ xứ, bỏ nước, thế mà đã biết bao nhiêu người Việt hải ngoại đã phải đi làm cực nhọc “ca” ngày, “ca” đêm để thêm tiền gửi về gia đình, anh em, họ hàng còn kẹt lại trong nước. Hằng năm, người Việt hải ngoại chuyển tiền tặng từ 7 tới 10 tỷ Mỹ kim về Việt Nam. Họ hy sinh như vậy, vì họ có tấm lòng, có đức độ. Họ không bắt buộc phải đóng góp như vậy, họ tự nguyện. Họ không bắt buộc phải yêu nước, yêu gia tộc, yêu xứ sở. Nhưng họ vẫn có những thiện chí đó vì họ vẫn là những con người tử tế, không thù hằn, không vị kỷ. Họ có tự do, có khả năng làm những công việc thiện nguyện đó. Họ cũng có tự do và khả năng chấm dứt, nếu họ thấy việc đóng góp này mất ý nghĩa căn bản, nếu họ biết chính quyền cộng sản đang lợi dụng.

• Và nếu đa số người Việt hải ngoại còn “hận thù, chống lại Nhà nước Việt Nam” là vì “Nhà nước” đó không xứng đáng với sự tin cậy, cảm tình của họ. Ngày nào Nhà nước Việt Nam còn cướp bóc, bỏ tù dân, còn bạc đãi tôn giáo, còn man khai lịch sử văn hoá, còn độc tôn, độc tác, còn sai quấy bán nước, bán dân thì bắt buộc người Việt hải ngoại có bổn phận phải cảnh cáo, chống đối. Căn cứ vào lẽ phải và luật pháp công bình. Căn cứ vào tình dân tộc. Căn cứ vào tình người.

• Ngày nào Nhà nước đó chưa bác bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam;[12] ngày nào Nhà Nước đó chưa biết tới sức mạnh đa nguyên đa đảng trong hệ thống kinh bang tế thế, trị quốc bình thiên hạ, nhằm bảo trọng sinh tồn dân tộc; ngày nào Nhà nước đó chưa thật tâm cứu nước, hưng dân, chưa thực sự cải tiến toàn diện, ứng dụng luật pháp công bình; ngày nào Nhà nước đó vẫn còn ý đồ vôi ve đỏ cả mảnh đất di sản Việt Nam, và hăm he định nhuộm đồ nốt 3 triệu dân cư hải ngoại; và nhất là ngày nào Nhà nước đó vẫn còn là một ngụy thể cộng sản toàn trị, không đội trời chung với bất cứ ai, thì ngày đó, người Việt hải ngoại vẫn còn thấy “đối thoại” là vô ích và “hoà giải hoà hợp dân tộc” là âm mưu xảo trá, bất kham.

Ngày nào một chính thể chân chính, phân minh, thực tâm

• điều tra những vi phạm nhân quyền;

• xét xử công minh những vụ tham nhũng, lạm quyền, trọng tội bán nước;

• trả lại tự do, tài sản và danh dự cho dân oan và các nạn nhân lịch sử;

• hoàn trả an sinh công bằng, thuần công lý cho toàn dân, toàn quân;

• phục hồi nhân quyền và dân chủ tự quyết trên toàn cõi đất nước Việt Nam.

ngày đó 90 triệu người dân trong nước và 3 triệu người dân tại hải ngoại mới bớt hận, mới hoan hỷ chấp nhận và ủy thác thực hiện một giải pháp Hoà-Giải-Hoà-Hợp-Dân-Tộc chân thực, không lật lọng, không áp đảo hoang đường.



Toàn dân Việt Nam vẫn mong, vẫn đợi cuộc “chỉnh lý” hài-hoà-dân-tộc đó, nhưng nhất quyết không muốn bị lừa một lần nữa bởi các thủ đoạn chia chác hậu trường chính trị hay trò bịp bợm xảo trá của những tên giang hồ CS ba lá, vớt vét chợ chiều tới giờ thứ 25.

TS LS Lưu Nguyễn Đạt


nguồn:www.vietthuc.org




[1] Promotion of National Unity and Reconciliation Act, No. 34 of 1995.

[2] Restorative justice. Also: Facing The Truth With Bill Moyers, produced by Public Affairs Television, Inc., presented on PBS by Thirteen/WNET in New York.

[3] Thực ra Chủ tịch Mao Trạch Đông ở bên Tàu mới là người đầu tiện gọi trí thức là “cục cứt”. Hồ Chí Minh và đồng bọn lây tục ngữ theo.

[4] “Là để ỉa vào mặt kẻ cầm quyền”, Dương Thu Hương Trả lời Đinh Ngọc Ninh (Phần 2)

[5] Trước những năm 1954 trở lại, người làng « Kẻ Noi » chuyên nghề « đổ thùng phân » đặt dưới các nhà vệ sinh ngồi chồm chỗm tr ên lỗ, rất thông thường tại Hà Nội ngày xưa. Hình như bây giờ tại Việt Nam, dân chúng « văn minh hơn » thường xây lâu đài 4 hay 5 tầng, nhưng không hề có phòng vê sinh, vì còn công khai cung cấp vào việc «kinh doanh» cung cấp «bom phân» kiểu Hà-Lội [sic]. Phần thặng dư, đem bỏ sông nuôi cá tập thể. Những chi tiết này đều có thật, căn cứ vào hình ảnh Youtube v à tài liệu nhà Nước-Vô-sản.

[6] Xem bài «Tại sao phố cổ Hà Nội bị từ chối công nhận là di sản văn hóa thế giới? » đăng tại www.vietthuc.org.

[7] Nói ngon, nói ngọt, và nói dối như « cuội vẹm » [Việt-Minh]

[8] On cite souvent à titre d’exemple les paroles suivantes : “il mourut le vendredi / le dernier jour de son âge / s’il fût mort le samedi / il eut vécu davantage”. Depuis, on parle de vérité de La Palice lorsqu’une chose est tellement évidente qu’elle en est risible.

[9] «I received your letter requesting me to host a meeting with your delegation to clear up « misunderstandings » between the Vietnamese american community and the government of Vietnam. At this point, I must decline…” Anh Joseph Cao, Congress of the United States, House of Representatives, Washington, DC, 4/29/2010

[10] Đọc “Loretta Sanchez Says Vietnam’s Rulers Are Pimps” đăng tại www.vietthuc.org

[11] Hình ảnh pa no 3-2-2010, với câu: ”Công an Nhân dân chỉ biết còn Đảng, còn Minh”

[12] Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.